Ngữ văn 11
Ngữ vănLớp 11Bài 9. Lựa chọn và hành động

Ôn tập học kì II

Mục tiêu bài học

  • Vận dụng được luận đề liên văn bản, chủ thể lựa chọn, tiêu chí đánh giá vào nhiệm vụ cụ thể.
  • Tạo sản phẩm có căn cứ và tự chỉnh sửa theo tiêu chí.

Bài giảng

Công cụ và giới hạn sử dụng

Luận đề liên văn bản. Vấn đề chung được soi từ nhiều văn bản nhưng không xóa đặc trưng của từng thể loại. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Chủ thể lựa chọn. Con người cân nhắc giá trị và chịu trách nhiệm về hành động trong hoàn cảnh cụ thể. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Tiêu chí đánh giá. Căn cứ được nêu rõ để nhận xét một hành động hoặc tác phẩm. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Bảng tự kiểm: Với mỗi văn bản, ghi thể loại, dữ kiện trung tâm, dấu hiệu hình thức và một nhận định có thể chứng minh. Khi so sánh, dùng cùng tiêu chí nhưng không ép các thể loại khác nhau vào cùng cách đọc.

Thực hành có hướng dẫn

Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.

Tác gia Nguyễn Du (Nhóm biên soạn sách giáo khoa, văn bản tác gia): Nguyễn Du (1765–1820), quê Tiên Điền, Hà Tĩnh, sống qua nhiều biến động cuối thế kỉ XVIII và đầu XIX. Ông sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm. Truyện Kiều là tác phẩm chữ Nôm tiêu biểu; các tập thơ chữ Hán bộc lộ suy tư về con người, lịch sử và thân phận.

Nguyễn Du từng làm quan và đi sứ. Thơ chữ Hán gồm Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục; sáng tác chữ Nôm có Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh. Kiều chịu tai biến và câu hỏi tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí là hai đầu mối nhận diện lòng thương người gắn phẩm giá, tài năng.

Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường, bút kí): Dòng Hương được nhìn từ thượng nguồn đến Huế và trong liên hệ với lịch sử, âm nhạc, thi ca. Người viết kết hợp quan sát địa hình với vốn văn hóa và những so sánh giàu tưởng tượng. Hành trình dòng sông vì thế cũng trở thành hành trình khám phá chiều sâu một vùng đất.

Trục địa lí từ Trường Sơn qua vùng đồi đến Huế và khúc ngoặt Bao Vinh được gắn với những dáng vẻ phóng khoáng, dịu dàng, lưu luyến do người viết hình dung. Liên tưởng mở sang nhạc Huế, Nguyễn Du, các thi nhân và lịch sử vùng đất; huyền thoại tên sông được phân biệt với tư liệu địa lí.

Nữ phóng viên đầu tiên (Trần Nhật Vy, văn bản thông tin về nhân vật): Bài viết giới thiệu Nguyễn Thị Kiêm, bút danh Manh Manh, gắn hoạt động báo chí với những đóng góp cho Thơ mới và tiếng nói phụ nữ. Thông tin về công việc, bối cảnh xã hội và các hoạt động được tổ chức để làm nổi bật vai trò tiên phong của nhân vật.

Manh Manh viết cho Phụ nữ Tân văn khoảng năm 1931. Bài nêu các hoạt động bênh vực Thơ mới, diễn thuyết ở Hội Khuyến học Sài Gòn năm 1933, lên tiếng cho việc học và phẩm giá phụ nữ. Hồ sơ đan tiểu sử với báo chí, thơ và nữ quyền, không chỉ theo một bảng niên đại.

Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ, hát nói): Chủ thể tự thuật con đường làm quan và lối sống sau khi rời quan trường. Ý thức về tài năng, công trạng và trách nhiệm tạo cơ sở cho thái độ không hoàn toàn lệ thuộc khen chê. Cái khác thường được thể hiện trong cả lựa chọn sống lẫn hình thức lời ca.

Chủ thể tự nhắc thủ khoa, tham tán, tổng đốc; sau cáo quan kể cưỡi bò vàng, dạo chùa, vui ca rượu mà vẫn tự nhận trọn đạo vua tôi. Hát nói là thể loại được xác định theo nguồn; bản diễn ý này không cho phép kiểm tra số tiếng, vần hay nhịp nguyên tác.

Tình huống vận dụng:
Một nhóm làm áp phích bảo vệ bờ sông. Minh muốn dùng ảnh đẹp chưa xin phép; Hòa đề nghị tự chụp và ghi nguồn. Nhóm chậm một ngày nhưng hoàn thành bằng ảnh do thành viên tạo, kèm ngày và địa điểm.

Sản phẩm mẫu có căn cứ: Tôi xem trách nhiệm với sản phẩm công cộng là vấn đề chính: nhóm từ ý định lấy ảnh chưa xin phép đã chuyển sang tự chụp và ghi nguồn. Tiến độ là vấn đề phụ vì chỉ được nêu như cái giá chậm một ngày của lựa chọn ấy. Bảo vệ bờ sông là bối cảnh hoạt động, nhưng đoạn chưa kể tác động môi trường của áp phích. Cách chia dựa vào chi tiết được nhấn và bước ngoặt của câu chuyện, không phải đếm tên đề tài. Người đọc có thể đề xuất trọng tâm khác nếu giải thích được quan hệ giữa các chi tiết.

Hệ thống hóa kiến thức đã học; Luyện tập và vận dụng

Tác gia Nguyễn Du: văn bản tác gia. Tầm vóc Nguyễn Du thể hiện trong đóng góp nghệ thuật và cách nhìn về con người. Dấu hiệu cần phân tích: Niên biểu cho biết hoàn cảnh chứ không thay phân tích tác phẩm; hai bộ phận sáng tác bổ sung cho chân dung tác gia; cảm hứng thương người kết hợp ý thức về nhân phẩm và tài năng.

Ai đã đặt tên cho dòng sông?: bút kí. Tưởng tượng nghệ thuật làm giàu cách cảm nhận nhưng không thay dữ kiện địa lí bằng sự kiện hư cấu. Dấu hiệu cần phân tích: Trục địa lí làm khung cho liên tưởng văn hóa; nhân hóa biến chuyển động sông thành dáng vẻ có cá tính; cái tôi tài hoa kết hợp tri thức và cảm xúc.

Nữ phóng viên đầu tiên: văn bản thông tin về nhân vật. Một chân dung thông tin thuyết phục cần chỉ ra đóng góp bằng dữ kiện cụ thể. Dấu hiệu cần phân tích: Nhan đề định hướng câu hỏi lịch sử; dữ kiện tiểu sử liên kết với hoạt động xã hội; cách tổ chức theo vấn đề tránh biến nhân vật thành một bảng ngày tháng rời rạc.

Bài ca ngất ngưởng: hát nói. Khẳng định cá tính không đồng nghĩa phủ nhận trách nhiệm với cộng đồng. Dấu hiệu cần phân tích: Tự thuật cho cái tôi một hồ sơ hành động; sự lặp ý ngất ngưởng nối hai chặng đời; thể hát nói linh hoạt phù hợp giọng điệu tự tin và phóng khoáng.

Hệ thống hóa toàn bài hoặc học kì

Bảng hệ thống hóa nguyên gốc:

Văn bảnĐịnh vị theo hồ sơDấu hiệu và tác dụng cần nhớ
Tác gia Nguyễn DuNhóm biên soạn sách giáo khoa, văn bản tác giaNguyễn Du trải qua biến động cuối Lê – Trịnh, Tây Sơn và đầu Nguyễn, từng sống lưu lạc rồi làm quan và đi sứ. Hoàn cảnh ấy mở nhiều trải nghiệm về đời sống, nhưng không thể lấy một mốc đời thay cho việc đọc hình ảnh, giọng điệu của từng sáng tác.
Trao duyênNguyễn Du, đoạn trích truyện thơ NômThúy Kiều nhờ Thúy Vân tiếp nối lời hẹn với Kim Trọng rồi trao vòng và tờ ghi lời thề. Nàng đã quyết bán mình cứu cha, em, nhưng còn xem kỉ vật là của chung. Sự không dứt được tình cảm làm việc trao vật bộc lộ mâu thuẫn giữa trách nhiệm và gắn bó.
Độc Tiểu Thanh kíNguyễn Du, thơ chữ Hán luật ĐườngTừ cảnh vườn đẹp thành hoang phế và dấu vết trang viết còn lại, chủ thể thương Tiểu Thanh rồi nhận mình cùng cảnh ngộ người tài chịu oan. Mạch từ thương người sang tự thương khiến câu hỏi tri âm cuối bài có quá trình chuẩn bị, không đột nhiên chỉ nói chuyện bản thân.
Chí khí anh hùngNguyễn Du, đoạn trích truyện thơ NômTừ Hải nhìn ra trời biển và lên đường với gươm, ngựa; hình ảnh chim bằng ở cuối diễn ý cho tầm vóc vượt khuôn khổ sinh hoạt thông thường. Không gian rộng tương ứng chí hướng lớn, làm nhân vật hiện lên như mẫu anh hùng lí tưởng hóa.
Mộng đắc thái liênNguyễn Du, thơ chữ HánKhung mơ hái sen nối thuyền nhỏ, bóng người dưới nước, lời hẹn cô hàng xóm và tiếng cười sau hoa. Cảnh mộng vừa có vẻ sinh hoạt gần gũi vừa cho phép tình cảm được bộc lộ qua liên tưởng, không buộc phải coi đó là nhật kí một chuyến đi thật.
Ai đã đặt tên cho dòng sông?Hoàng Phủ Ngọc Tường, bút kíTừ thượng nguồn Trường Sơn qua vùng đồi, vào Huế rồi ngoặt lại Bao Vinh, dòng sông có một hành trình làm trục cho bài viết. Trên trục ấy, tri thức âm nhạc, lịch sử và thơ ca mở thêm tầng văn hóa, không phá thành các đoạn kiến thức rời nhau.
“Và tôi vẫn muốn mẹ…”Svetlana Alexievich, kí, lời chứng hồi ứcNhân chứng kể bằng ngôi tôi những lần tản cư, đói khát và tìm mẹ trong chiến tranh. Việc phân biệt người từng trải với nhà văn ghi lời kể giữ rõ vị trí của nguồn chứng; tiếng nói cá nhân làm lịch sử có gương mặt cụ thể.
Cà Mau quê xứTrần Tuấn, tản văn, kíChuyến đi tới Đất Mũi, cuộc gặp ở nhà anh Phúc chị Tuyết và lúc rời Mũi nối các mảnh ghi chép. Dõi theo hành trình, người đọc nhận ra vùng đất qua người làm nghề ghẹ, cây đước và sinh hoạt cụ thể, không phải một danh sách địa danh du lịch.
Cây diêm cuối cùngCao Huy Thuần, tản văn nghị luận có tự sựHai người lính đối địch bị dồn vào chùa hoang giữa bão tuyết; người đang cầm súng lại giúp mồi lửa cho người kiệt sức. Câu chuyện tạo căn cứ cho suy tư về khả năng cứu chất người trong thù địch, không phải chứng minh chiến tranh tự nó sinh lòng tốt.
Nữ phóng viên đầu tiênTrần Nhật Vy, văn bản thông tin về nhân vậtBài mở bằng sự xuất hiện một nữ phóng viên ở Phụ nữ Tân văn khoảng năm 1931 rồi mới gọi tên Manh Manh. Cách mở tạo câu hỏi ai và trong bối cảnh nào, đồng thời đặt danh xưng đầu tiên trong phạm vi hoạt động báo chí được bài khảo sát.
Trí thông minh nhân tạoRichard Watson, văn bản thông tinBài phân biệt nhóm AI mạnh với AI yếu theo cách giải thích của nguồn, rồi bàn các khả năng phát triển. Sự phân loại tạo điểm tựa cho thông tin phía sau; cần ghi đây là khung trình bày trong một văn bản đã xuất bản, không mặc nhiên là định nghĩa kĩ thuật đầy đủ ở mọi thời.
Pa-ra-lim-pích (Paralympic): Một lịch sử chữa lành những vết thươngParalympic): Một lịch sử chữa lành những vết thương** (Huy Đăng, văn bản thông tinBài liên hệ cuộc thi phục hồi do Ludwig Guttmann tổ chức năm 1948 với Paralympic từ năm 1960 và các vận động viên ở Tokyo 2020. Các mốc nối mục tiêu phục hồi với sân chơi quốc tế, giúp hiểu quá trình chứ không chỉ nhớ một ngày thành lập.
Ca nhạc ở Miệt VườnSơn Nam, văn bản thông tin văn hóaNhững tập bài ca được in bằng chữ quốc ngữ cùng các buổi đờn ca gặp bạn cho thấy môi trường xã hội giúp âm nhạc lan rộng. Người đọc hiểu nghệ thuật gắn với cách lưu truyền, điều kiện sống và nhu cầu giao cảm chứ không tự phát triển trong khoảng trống.
Bài ca ngất ngưởngNguyễn Công Trứ, hát nóiChủ thể nhắc các vai trò thủ khoa, tham tán, tổng đốc rồi kể cách sống sau khi cáo quan. Hồ sơ hành động ấy là điểm tựa cho lời tự tin về bản lĩnh; không phải chỉ tự nhận hơn người mà không có quá trình gánh vác công việc.
Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcNguyễn Đình Chiểu, văn tếNgười vốn quen cuốc cày và chưa quen việc binh tự đứng lên đánh giặc bằng công cụ thô sơ. Đặt nghề ruộng cạnh hành động xông trận làm sự chuyển hóa thành nghĩa sĩ hiện ra từ người bình thường, không từ một tầng lớp anh hùng có sẵn.
Cộng đồng và cá thểAlbert Einstein, tiểu luận nghị luậnBữa ăn, áo mặc, nhà ở, tri thức và ngôn ngữ của mỗi người đều dựa vào công sức người khác. Bằng chứng từ nhu cầu quen thuộc giúp thấy quan hệ với cộng đồng ngay trong đời thường, không chỉ trong những việc được gọi là lớn lao.
“Làm việc” cũng là “làm người”!Giản Tư Trung, nghị luận xã hộiTừ câu hỏi cân bằng công việc với cuộc sống, người viết cho rằng cách làm nghề bộc lộ con người. Nối đạo sống với đạo nghề khiến chất lượng lao động được xem cùng phẩm giá và mục đích, không chỉ cùng thu nhập.

Khi vận dụng, tôi nêu dữ kiện trước rồi giải thích cách tổ chức; không dùng một thể loại làm khuôn duy nhất cho tất cả. Các nhận xét về âm luật cần nguyên tác, không suy từ bản diễn ý.

Khái niệm chính

Luận đề liên văn bản
Vấn đề chung được soi từ nhiều văn bản nhưng không xóa đặc trưng của từng thể loại.
Chủ thể lựa chọn
Con người cân nhắc giá trị và chịu trách nhiệm về hành động trong hoàn cảnh cụ thể.
Tiêu chí đánh giá
Căn cứ được nêu rõ để nhận xét một hành động hoặc tác phẩm.

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Xử lí trọn vẹn tình huống đã cho.

    Xem lời giải

    Tôi xem trách nhiệm với sản phẩm công cộng là vấn đề chính: nhóm từ ý định lấy ảnh chưa xin phép đã chuyển sang tự chụp và ghi nguồn. Tiến độ là vấn đề phụ vì chỉ được nêu như cái giá chậm một ngày của lựa chọn ấy. Bảo vệ bờ sông là bối cảnh hoạt động, nhưng đoạn chưa kể tác động môi trường của áp phích. Cách chia dựa vào chi tiết được nhấn và bước ngoặt của câu chuyện, không phải đếm tên đề tài. Người đọc có thể đề xuất trọng tâm khác nếu giải thích được quan hệ giữa các chi tiết.

Ghi nhớ

Luận đề liên văn bản → Chủ thể lựa chọn → Tiêu chí đánh giá: vận dụng vào dữ kiện, giải thích tác dụng và tự kiểm tra giới hạn kết luận.

Dễ nhầm

  • Không coi ví dụ giả định là dữ kiện thực tế; không chép định nghĩa thay cho thao tác.

Bài tập

Đã đúng 0/4 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.

    Tác gia Nguyễn Du (Nhóm biên soạn sách giáo khoa, văn bản tác gia): Nguyễn Du (1765–1820), quê Tiên Điền, Hà Tĩnh, sống qua nhiều biến động cuối thế kỉ XVIII và đầu XIX. Ông sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm. Truyện Kiều là tác phẩm chữ Nôm tiêu biểu; các tập thơ chữ Hán bộc lộ suy tư về con người, lịch sử và thân phận.

    Nguyễn Du từng làm quan và đi sứ. Thơ chữ Hán gồm Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục; sáng tác chữ Nôm có Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh. Kiều chịu tai biến và câu hỏi tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí là hai đầu mối nhận diện lòng thương người gắn phẩm giá, tài năng.

    Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường, bút kí): Dòng Hương được nhìn từ thượng nguồn đến Huế và trong liên hệ với lịch sử, âm nhạc, thi ca. Người viết kết hợp quan sát địa hình với vốn văn hóa và những so sánh giàu tưởng tượng. Hành trình dòng sông vì thế cũng trở thành hành trình khám phá chiều sâu một vùng đất.

    Trục địa lí từ Trường Sơn qua vùng đồi đến Huế và khúc ngoặt Bao Vinh được gắn với những dáng vẻ phóng khoáng, dịu dàng, lưu luyến do người viết hình dung. Liên tưởng mở sang nhạc Huế, Nguyễn Du, các thi nhân và lịch sử vùng đất; huyền thoại tên sông được phân biệt với tư liệu địa lí.

    Nữ phóng viên đầu tiên (Trần Nhật Vy, văn bản thông tin về nhân vật): Bài viết giới thiệu Nguyễn Thị Kiêm, bút danh Manh Manh, gắn hoạt động báo chí với những đóng góp cho Thơ mới và tiếng nói phụ nữ. Thông tin về công việc, bối cảnh xã hội và các hoạt động được tổ chức để làm nổi bật vai trò tiên phong của nhân vật.

    Manh Manh viết cho Phụ nữ Tân văn khoảng năm 1931. Bài nêu các hoạt động bênh vực Thơ mới, diễn thuyết ở Hội Khuyến học Sài Gòn năm 1933, lên tiếng cho việc học và phẩm giá phụ nữ. Hồ sơ đan tiểu sử với báo chí, thơ và nữ quyền, không chỉ theo một bảng niên đại.

    Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ, hát nói): Chủ thể tự thuật con đường làm quan và lối sống sau khi rời quan trường. Ý thức về tài năng, công trạng và trách nhiệm tạo cơ sở cho thái độ không hoàn toàn lệ thuộc khen chê. Cái khác thường được thể hiện trong cả lựa chọn sống lẫn hình thức lời ca.

    Chủ thể tự nhắc thủ khoa, tham tán, tổng đốc; sau cáo quan kể cưỡi bò vàng, dạo chùa, vui ca rượu mà vẫn tự nhận trọn đạo vua tôi. Hát nói là thể loại được xác định theo nguồn; bản diễn ý này không cho phép kiểm tra số tiếng, vần hay nhịp nguyên tác.

    Tình huống vận dụng:
    Một nhóm làm áp phích bảo vệ bờ sông. Minh muốn dùng ảnh đẹp chưa xin phép; Hòa đề nghị tự chụp và ghi nguồn. Nhóm chậm một ngày nhưng hoàn thành bằng ảnh do thành viên tạo, kèm ngày và địa điểm.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Trao duyên (Nguyễn Du, đoạn trích truyện thơ Nôm); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Sau khi chọn bán mình để cứu gia đình, Thúy Kiều nhờ Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng. Kiều trao kỉ vật nhưng không thể trao hết tình yêu và kí ức. Lời nói chuyển từ thuyết phục em đến hình dung thân phận mình, rồi như hướng trực tiếp về người yêu vắng mặt.

    Thúy Vân thức dậy hỏi chuyện trong đêm, Kiều nhờ em nhận lời. Kỉ vật được diễn ý gồm chiếc vòng và tờ ghi lời thề; Kiều mong em giữ lại phần của chung. Sau đó nàng tưởng tượng đã chết, trở về trong gió, rồi gọi Kim Trọng. Hồ sơ chỉ diễn ý chuyển mạch, không cung cấp nguyên tác để đếm nhịp.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du, thơ chữ Hán luật Đường); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Đọc dấu vết còn lại về Tiểu Thanh, chủ thể thương người phụ nữ tài hoa chịu bất hạnh. Từ chuyện một con người, suy tư mở rộng về số phận người có tài và quyền được thấu hiểu. Cuối bài, câu hỏi hướng tới khả năng có người đời sau tri âm với chính mình.

    Cảnh vườn Tây Hồ hoang phế, trang viết còn lại và việc văn chương bị đốt gợi nỗi thương tài sắc. Cuối bài, chủ thể hỏi người sau hơn ba trăm năm có ai khóc Tố Như, tên tự của Nguyễn Du. Mốc thời gian mang tính ước lệ; không xác nhận một cuộc gặp trực tiếp giữa Nguyễn Du với Tiểu Thanh.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Chí khí anh hùng (Nguyễn Du, đoạn trích truyện thơ Nôm); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Sau thời gian gắn bó với Kiều, Từ Hải quyết ra đi thực hiện chí lớn. Kiều muốn theo, còn Từ Hải thuyết phục nàng chờ một ngày trở lại xứng đáng. Ngôn ngữ và hình ảnh đặt nhân vật trong không gian rộng, làm hiện ra một hình mẫu anh hùng được lí tưởng hóa.

    Từ Hải ra đi với gươm, ngựa trong không gian trời biển; cuối đoạn có hình ảnh chim bằng. Nàng Kiều xin đi theo, chàng nói cảnh bốn bể chưa có nhà, hẹn khoảng một năm sẽ trở lại cùng lực lượng lớn để đón nàng. Đó là lời hẹn, không phải kết quả đã diễn ra.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Mộng đắc thái liên (Nguyễn Du, thơ chữ Hán); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Trong giấc mộng hái sen, chủ thể hình dung cảnh người hái, hoa, lá và ngó sen. Những bộ phận của cây không chỉ tạo cảnh mà còn gợi suy ngẫm về điều dễ nhìn thấy và phần giá trị kín sâu. Bài thơ vận động từ vẻ đẹp của một sinh hoạt đến ý nghĩa chiêm nghiệm.

    Cảnh mơ có thuyền nhỏ, bóng người trong nước, lời hẹn cô hàng xóm và tiếng cười sau hoa. Mạch ảnh đi qua hoa, gương, cuống có tơ bền và ngó sen; cuối bài dặn đừng làm hại ngó để mùa sau còn hoa. Không lấy giai thoại tình yêu làm sự kiện tiểu sử đã chắc chắn.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về “Và tôi vẫn muốn mẹ…” (Svetlana Alexievich, kí, lời chứng hồi ức); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Một người trưởng thành kể lại trải nghiệm chiến tranh từ thời còn là trẻ em trong Những nhân chứng cuối cùng. Kí ức mất mát và nhu cầu được mẹ chở che vẫn sống trong lời kể sau nhiều năm. Nhà văn ghi nhận tiếng nói nhân chứng, để lịch sử hiện ra qua số phận riêng.

    Nhân chứng là Din-na Cô-si-ắc, tám tuổi khi có trải nghiệm chiến tranh, về sau làm thợ tóc. Chị kể tản cư, ăn cỏ và vỏ cây vì đói, tiếng khóc khi nhắc mẹ, việc được ông Bôn-sa-cốp đưa về nuôi và những lần tìm mẹ. Lúc kể, chị năm mươi mốt tuổi, có hai con mà vẫn mong mẹ.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cà Mau quê xứ (Trần Tuấn, tản văn, kí); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Người viết đi đến Cà Mau, quan sát thiên nhiên và gặp con người vùng đất cực Nam. Những ấn tượng trên đường gắn với kí ức đọc văn và cảm giác về quê xứ. Cảnh vật không chỉ được liệt kê mà được cảm nhận qua một cái tôi đang trực tiếp trải nghiệm.

    Tác giả đi Đất Mũi với kí ức đọc Nguyễn Tuân, Anh Đức, Xuân Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Sơn Nam. Anh gặp vợ chồng anh Phúc chị Tuyết làm nghề ghẹ, nghe lo lắng về rừng đước trước nghề nuôi tôm. Cuối bài, ánh mắt cô gái Năm Căn gợi lưu luyến khi anh rời Mũi. Thông tin giá cả trong tác phẩm, nếu đọc, thuộc thời điểm chuyến đi, không phải báo giá hôm nay.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cây diêm cuối cùng (Cao Huy Thuần, tản văn nghị luận có tự sự); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Người viết dẫn một tình huống chiến tranh: trong hoàn cảnh nguy hiểm, sự chia sẻ nguồn lửa cuối cùng có thể nối hai người ở hai phía đối địch. Câu chuyện được dùng để suy nghĩ về lòng nhân và những giới hạn của sự thù địch. Điều đáng đọc là quan hệ giữa câu chuyện và lời bàn, không phải xem tình huống kể như hồ sơ tác chiến.

    Trong chùa hoang giữa bão tuyết, người lính đối địch đưa diêm và giấy có thơ giúp nhóm lửa. Chỉ còn một que, anh giật lấy để bật khi tay người kể run, rồi gục xuống vì thương tích và chết. Sau chiến tranh người kể trở lại dựng chùa, giữ bài thơ; việc bài thơ xuất hiện hoàn chỉnh sau khi tờ trước dùng mồi lửa tạo màu sắc hư cấu, gợi nghĩ về tình người.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Trí thông minh nhân tạo (Richard Watson, văn bản thông tin); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Đoạn trích từ 50 ý tưởng về tương lai trình bày những khả năng và quan điểm khác nhau về trí tuệ nhân tạo. Có thông tin mô tả công nghệ đã có, có giả định về điều có thể xuất hiện. Người đọc cần giữ sự phân biệt ấy và không dùng một dự báo trong sách làm bằng chứng hiện trạng của mọi công nghệ.

    Bài chia AI mạnh và AI yếu theo cách diễn giải của nguồn, lấy ví dụ khả năng tự động chẩn đoán, phẫu thuật và việc làm. Kurzweil kì vọng máy vượt kiểm tra Turing vào 2029; Calvin nhấn mạnh sự phức tạp của não. Những ý kiến và dự báo này được đọc trong hoàn cảnh xuất bản của sách, không dùng làm xác nhận công nghệ hiện nay.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Pa-ra-lim-pích (Paralympic): Một lịch sử chữa lành những vết thương (Huy Đăng, văn bản thông tin); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Bài viết theo dõi sự hình thành và phát triển của phong trào thể thao dành cho người khuyết tật, từ mục tiêu phục hồi đến một sân chơi thể thao có quy mô quốc tế. Những câu chuyện vận động viên và mốc phát triển cho thấy năng lực, nghị lực và ý nghĩa của cơ hội tham gia bình đẳng.

    Mạch nguồn gắn hoạt động phục hồi của bác sĩ Ludwig Guttmann năm 1948 với Paralympic từ 1960. Bài kể Jaco Van Gass trở lại thể thao sau thương tích và đoạt hai vàng, một đồng xe đạp tại Tokyo 2020; Bradley Snyder mất thị lực rồi thi đấu bơi và ba môn phối hợp. Tên Tokyo 2020 được giữ theo tên kì đại hội, dù tổ chức vào năm 2021.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Ca nhạc ở Miệt Vườn (Sơn Nam, văn bản thông tin văn hóa); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Đoạn trích Văn minh Miệt Vườn trình bày môi trường sinh hoạt ca nhạc ở Nam Bộ và những giao lưu góp phần hình thành diện mạo văn hóa vùng. Người đọc cần theo dõi không gian, người tham gia và sự biến đổi loại hình, thay vì coi mọi tên gọi ca nhạc là hoàn toàn đồng nhất.

    Sách bài ca in bằng chữ quốc ngữ và sinh hoạt gặp bạn góp phần lan truyền đờn ca. Bài giải thích tài tử theo hoàn cảnh xưa, rồi nối đờn ca tài tử với ca ra bộ, cải lương. Tống Hữu Định tổ chức ca ra bộ; gánh André Thận năm 1917 là một mốc. Sự phối hợp điệu hát cũ với cách sắp màn cảnh mới cho thấy giao lưu, không đồng nhất các loại hình.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu, văn tế); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Bài văn tưởng niệm những người nông dân đã chiến đấu và hi sinh chống quân xâm lược ở Cần Giuộc năm 1861. Từ cuộc sống lao động bình dị, họ bước vào trận đánh trong điều kiện thiếu thốn. Lời ngợi ca gắn với tiếng khóc cho người ngã xuống và gia đình còn lại.

    Bài đối chiếu người quen nghề ruộng, xa lạ việc binh với hành động tự nguyện đánh đồn bằng vũ khí thô sơ. Sau hình ảnh xông trận là mẹ già khóc con và vợ tìm chồng. Văn bản viết theo phú Đường luật, dùng lối biền ngẫu; diễn ý chỉ giúp đọc mạch nghĩa, không thay nguyên tác khi khảo sát nhịp câu.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cộng đồng và cá thể (Albert Einstein, tiểu luận nghị luận); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Trong Thế giới như tôi thấy, Einstein bàn việc mỗi người thụ hưởng thành quả của cộng đồng, đồng thời sự tiến bộ cần những cá nhân độc lập và sáng tạo. Hai chiều phụ thuộc và đóng góp được đặt trong quan hệ tương hỗ. Lập luận không yêu cầu xóa cá tính để đổi lấy sự thuộc về.

    Các ví dụ gồm thức ăn, áo, nhà, tri thức, ngôn ngữ do người khác góp phần tạo ra. Mặt khác, người tìm ra cách dùng lửa, trồng trọt và máy hơi nước minh họa vai trò sáng tạo cá nhân. Bài nhìn hai chiều rồi liên hệ nguy cơ đám đông mất độc lập; nhận xét thời đại thuộc bối cảnh tác giả, không tự áp nguyên cho hiện tại.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về “Làm việc” cũng là “làm người”! (Giản Tư Trung, nghị luận xã hội); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Đoạn trích từ Đúng việc đặt công việc trong quan hệ với nhân cách. Làm nghề không chỉ để có thu nhập mà còn bộc lộ cách đối xử với người khác và trách nhiệm đối với sản phẩm mình tạo ra. Lời bàn đặt ra yêu cầu làm người trong từng lựa chọn nghề nghiệp cụ thể.

    Bài bắt đầu từ thắc mắc cân bằng việc làm và cuộc sống, nối đạo sống với đạo nghề, dùng lời dẫn về cống hiến cho người khác. Kết lại là hai hướng tự hỏi: có hiểu, làm tốt sứ mệnh nghề không và việc chọn có hợp con người mình không. Đó là cách kiểm tra giá trị bằng lựa chọn cụ thể.

  2. Câu 1Mức 1Ghép nối

    Ghép khái niệm với nội dung sử dụng trong bài.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  3. Câu 2Mức 2Trắc nghiệm 1 đáp án

    Cách làm nào phù hợp nhất khi xử lí ngữ liệu này?

  4. Câu 3Mức 2Đúng / Sai nhiều ý

    Đánh giá hai cách dùng mô hình học tập.

    ÝĐúngSai
    a)Có thể phân tích mối quan hệ giữa chi tiết đã nêu và mục đích diễn đạt.
    b)Mọi chi tiết giả định trong ngữ liệu đều là kết quả nghiên cứu đã công bố.
  5. Câu 4Mức 2Sắp xếp thứ tự

    Xếp quy trình tạo một sản phẩm có căn cứ: từ xác định nhiệm vụ đến chỉnh sửa.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Xác định nhiệm vụ và người đọc hoặc người nghe.
    2. 2Chọn dữ kiện phù hợp, ghi rõ phạm vi nguồn.
    3. 3Đối chiếu tiêu chí để sửa diễn đạt, nguồn và kết luận.
    4. 4Tổ chức nhận định và giải thích bằng dữ kiện.
  6. Câu 5Mức 3Tự luận

    So sánh cách đặt vấn đề trong Tác gia Nguyễn Du và Ai đã đặt tên cho dòng sông?. Nêu một điểm có thể đặt cạnh nhau và một khác biệt; không chỉ kể hai bản tóm tắt.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 6Mức 3Tự luận

    Chọn Tác gia Nguyễn Du hoặc Ai đã đặt tên cho dòng sông?, nêu một cách hiểu dễ sai và sửa bằng dữ kiện.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 7Mức 3Tự luận

    Viết một đoạn phản hồi 4–6 câu cho người đang học bài này: nêu một phát hiện có căn cứ và một giới hạn cần giữ.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 4Tự luận

    Hoàn thành bảng hệ thống hóa các văn bản trong hồ sơ: ghi định vị thể loại, một dữ kiện và tác dụng của cách tổ chức. Sau bảng, giải thích một nguyên tắc đọc giúp tránh nhầm giữa các thể loại; không chỉ ghi tên thủ pháp.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  10. Câu 9Mức 3Tự luận

    Đối chiếu hai khái niệm đầu: chúng khác nhau thế nào khi áp dụng vào tình huống?

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  11. Câu 10Mức 3Tự luận

    Nêu một kết luận mà ngữ liệu chưa cho phép khẳng định. Giải thích cần bổ sung loại dữ liệu nào.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  12. Câu 11Mức 3Tự luận

    Viết ba câu tự đánh giá sản phẩm: một điểm đạt, một điểm cần sửa, một thao tác sửa cụ thể.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  13. Câu 12Mức 3Tự luận

    Vận dụng tình huống: viết một lời giải thích ngắn cho người chưa biết ba khái niệm; không dùng thuật ngữ để giải thích vòng quanh.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay