Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Tác gia Nguyễn Du (Nhóm biên soạn sách giáo khoa, văn bản tác gia): Nguyễn Du (1765–1820), quê Tiên Điền, Hà Tĩnh, sống qua nhiều biến động cuối thế kỉ XVIII và đầu XIX. Ông sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm. Truyện Kiều là tác phẩm chữ Nôm tiêu biểu; các tập thơ chữ Hán bộc lộ suy tư về con người, lịch sử và thân phận.
Nguyễn Du từng làm quan và đi sứ. Thơ chữ Hán gồm Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục; sáng tác chữ Nôm có Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh. Kiều chịu tai biến và câu hỏi tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí là hai đầu mối nhận diện lòng thương người gắn phẩm giá, tài năng.
Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường, bút kí): Dòng Hương được nhìn từ thượng nguồn đến Huế và trong liên hệ với lịch sử, âm nhạc, thi ca. Người viết kết hợp quan sát địa hình với vốn văn hóa và những so sánh giàu tưởng tượng. Hành trình dòng sông vì thế cũng trở thành hành trình khám phá chiều sâu một vùng đất.
Trục địa lí từ Trường Sơn qua vùng đồi đến Huế và khúc ngoặt Bao Vinh được gắn với những dáng vẻ phóng khoáng, dịu dàng, lưu luyến do người viết hình dung. Liên tưởng mở sang nhạc Huế, Nguyễn Du, các thi nhân và lịch sử vùng đất; huyền thoại tên sông được phân biệt với tư liệu địa lí.
Nữ phóng viên đầu tiên (Trần Nhật Vy, văn bản thông tin về nhân vật): Bài viết giới thiệu Nguyễn Thị Kiêm, bút danh Manh Manh, gắn hoạt động báo chí với những đóng góp cho Thơ mới và tiếng nói phụ nữ. Thông tin về công việc, bối cảnh xã hội và các hoạt động được tổ chức để làm nổi bật vai trò tiên phong của nhân vật.
Manh Manh viết cho Phụ nữ Tân văn khoảng năm 1931. Bài nêu các hoạt động bênh vực Thơ mới, diễn thuyết ở Hội Khuyến học Sài Gòn năm 1933, lên tiếng cho việc học và phẩm giá phụ nữ. Hồ sơ đan tiểu sử với báo chí, thơ và nữ quyền, không chỉ theo một bảng niên đại.
Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ, hát nói): Chủ thể tự thuật con đường làm quan và lối sống sau khi rời quan trường. Ý thức về tài năng, công trạng và trách nhiệm tạo cơ sở cho thái độ không hoàn toàn lệ thuộc khen chê. Cái khác thường được thể hiện trong cả lựa chọn sống lẫn hình thức lời ca.
Chủ thể tự nhắc thủ khoa, tham tán, tổng đốc; sau cáo quan kể cưỡi bò vàng, dạo chùa, vui ca rượu mà vẫn tự nhận trọn đạo vua tôi. Hát nói là thể loại được xác định theo nguồn; bản diễn ý này không cho phép kiểm tra số tiếng, vần hay nhịp nguyên tác.
Tình huống vận dụng:
Một nhóm làm áp phích bảo vệ bờ sông. Minh muốn dùng ảnh đẹp chưa xin phép; Hòa đề nghị tự chụp và ghi nguồn. Nhóm chậm một ngày nhưng hoàn thành bằng ảnh do thành viên tạo, kèm ngày và địa điểm.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Trao duyên (Nguyễn Du, đoạn trích truyện thơ Nôm); không phải nguyên văn tác phẩm.
Sau khi chọn bán mình để cứu gia đình, Thúy Kiều nhờ Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng. Kiều trao kỉ vật nhưng không thể trao hết tình yêu và kí ức. Lời nói chuyển từ thuyết phục em đến hình dung thân phận mình, rồi như hướng trực tiếp về người yêu vắng mặt.
Thúy Vân thức dậy hỏi chuyện trong đêm, Kiều nhờ em nhận lời. Kỉ vật được diễn ý gồm chiếc vòng và tờ ghi lời thề; Kiều mong em giữ lại phần của chung. Sau đó nàng tưởng tượng đã chết, trở về trong gió, rồi gọi Kim Trọng. Hồ sơ chỉ diễn ý chuyển mạch, không cung cấp nguyên tác để đếm nhịp.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du, thơ chữ Hán luật Đường); không phải nguyên văn tác phẩm.
Đọc dấu vết còn lại về Tiểu Thanh, chủ thể thương người phụ nữ tài hoa chịu bất hạnh. Từ chuyện một con người, suy tư mở rộng về số phận người có tài và quyền được thấu hiểu. Cuối bài, câu hỏi hướng tới khả năng có người đời sau tri âm với chính mình.
Cảnh vườn Tây Hồ hoang phế, trang viết còn lại và việc văn chương bị đốt gợi nỗi thương tài sắc. Cuối bài, chủ thể hỏi người sau hơn ba trăm năm có ai khóc Tố Như, tên tự của Nguyễn Du. Mốc thời gian mang tính ước lệ; không xác nhận một cuộc gặp trực tiếp giữa Nguyễn Du với Tiểu Thanh.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Chí khí anh hùng (Nguyễn Du, đoạn trích truyện thơ Nôm); không phải nguyên văn tác phẩm.
Sau thời gian gắn bó với Kiều, Từ Hải quyết ra đi thực hiện chí lớn. Kiều muốn theo, còn Từ Hải thuyết phục nàng chờ một ngày trở lại xứng đáng. Ngôn ngữ và hình ảnh đặt nhân vật trong không gian rộng, làm hiện ra một hình mẫu anh hùng được lí tưởng hóa.
Từ Hải ra đi với gươm, ngựa trong không gian trời biển; cuối đoạn có hình ảnh chim bằng. Nàng Kiều xin đi theo, chàng nói cảnh bốn bể chưa có nhà, hẹn khoảng một năm sẽ trở lại cùng lực lượng lớn để đón nàng. Đó là lời hẹn, không phải kết quả đã diễn ra.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Mộng đắc thái liên (Nguyễn Du, thơ chữ Hán); không phải nguyên văn tác phẩm.
Trong giấc mộng hái sen, chủ thể hình dung cảnh người hái, hoa, lá và ngó sen. Những bộ phận của cây không chỉ tạo cảnh mà còn gợi suy ngẫm về điều dễ nhìn thấy và phần giá trị kín sâu. Bài thơ vận động từ vẻ đẹp của một sinh hoạt đến ý nghĩa chiêm nghiệm.
Cảnh mơ có thuyền nhỏ, bóng người trong nước, lời hẹn cô hàng xóm và tiếng cười sau hoa. Mạch ảnh đi qua hoa, gương, cuống có tơ bền và ngó sen; cuối bài dặn đừng làm hại ngó để mùa sau còn hoa. Không lấy giai thoại tình yêu làm sự kiện tiểu sử đã chắc chắn.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về “Và tôi vẫn muốn mẹ…” (Svetlana Alexievich, kí, lời chứng hồi ức); không phải nguyên văn tác phẩm.
Một người trưởng thành kể lại trải nghiệm chiến tranh từ thời còn là trẻ em trong Những nhân chứng cuối cùng. Kí ức mất mát và nhu cầu được mẹ chở che vẫn sống trong lời kể sau nhiều năm. Nhà văn ghi nhận tiếng nói nhân chứng, để lịch sử hiện ra qua số phận riêng.
Nhân chứng là Din-na Cô-si-ắc, tám tuổi khi có trải nghiệm chiến tranh, về sau làm thợ tóc. Chị kể tản cư, ăn cỏ và vỏ cây vì đói, tiếng khóc khi nhắc mẹ, việc được ông Bôn-sa-cốp đưa về nuôi và những lần tìm mẹ. Lúc kể, chị năm mươi mốt tuổi, có hai con mà vẫn mong mẹ.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cà Mau quê xứ (Trần Tuấn, tản văn, kí); không phải nguyên văn tác phẩm.
Người viết đi đến Cà Mau, quan sát thiên nhiên và gặp con người vùng đất cực Nam. Những ấn tượng trên đường gắn với kí ức đọc văn và cảm giác về quê xứ. Cảnh vật không chỉ được liệt kê mà được cảm nhận qua một cái tôi đang trực tiếp trải nghiệm.
Tác giả đi Đất Mũi với kí ức đọc Nguyễn Tuân, Anh Đức, Xuân Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Sơn Nam. Anh gặp vợ chồng anh Phúc chị Tuyết làm nghề ghẹ, nghe lo lắng về rừng đước trước nghề nuôi tôm. Cuối bài, ánh mắt cô gái Năm Căn gợi lưu luyến khi anh rời Mũi. Thông tin giá cả trong tác phẩm, nếu đọc, thuộc thời điểm chuyến đi, không phải báo giá hôm nay.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cây diêm cuối cùng (Cao Huy Thuần, tản văn nghị luận có tự sự); không phải nguyên văn tác phẩm.
Người viết dẫn một tình huống chiến tranh: trong hoàn cảnh nguy hiểm, sự chia sẻ nguồn lửa cuối cùng có thể nối hai người ở hai phía đối địch. Câu chuyện được dùng để suy nghĩ về lòng nhân và những giới hạn của sự thù địch. Điều đáng đọc là quan hệ giữa câu chuyện và lời bàn, không phải xem tình huống kể như hồ sơ tác chiến.
Trong chùa hoang giữa bão tuyết, người lính đối địch đưa diêm và giấy có thơ giúp nhóm lửa. Chỉ còn một que, anh giật lấy để bật khi tay người kể run, rồi gục xuống vì thương tích và chết. Sau chiến tranh người kể trở lại dựng chùa, giữ bài thơ; việc bài thơ xuất hiện hoàn chỉnh sau khi tờ trước dùng mồi lửa tạo màu sắc hư cấu, gợi nghĩ về tình người.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Trí thông minh nhân tạo (Richard Watson, văn bản thông tin); không phải nguyên văn tác phẩm.
Đoạn trích từ 50 ý tưởng về tương lai trình bày những khả năng và quan điểm khác nhau về trí tuệ nhân tạo. Có thông tin mô tả công nghệ đã có, có giả định về điều có thể xuất hiện. Người đọc cần giữ sự phân biệt ấy và không dùng một dự báo trong sách làm bằng chứng hiện trạng của mọi công nghệ.
Bài chia AI mạnh và AI yếu theo cách diễn giải của nguồn, lấy ví dụ khả năng tự động chẩn đoán, phẫu thuật và việc làm. Kurzweil kì vọng máy vượt kiểm tra Turing vào 2029; Calvin nhấn mạnh sự phức tạp của não. Những ý kiến và dự báo này được đọc trong hoàn cảnh xuất bản của sách, không dùng làm xác nhận công nghệ hiện nay.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Pa-ra-lim-pích (Paralympic): Một lịch sử chữa lành những vết thương (Huy Đăng, văn bản thông tin); không phải nguyên văn tác phẩm.
Bài viết theo dõi sự hình thành và phát triển của phong trào thể thao dành cho người khuyết tật, từ mục tiêu phục hồi đến một sân chơi thể thao có quy mô quốc tế. Những câu chuyện vận động viên và mốc phát triển cho thấy năng lực, nghị lực và ý nghĩa của cơ hội tham gia bình đẳng.
Mạch nguồn gắn hoạt động phục hồi của bác sĩ Ludwig Guttmann năm 1948 với Paralympic từ 1960. Bài kể Jaco Van Gass trở lại thể thao sau thương tích và đoạt hai vàng, một đồng xe đạp tại Tokyo 2020; Bradley Snyder mất thị lực rồi thi đấu bơi và ba môn phối hợp. Tên Tokyo 2020 được giữ theo tên kì đại hội, dù tổ chức vào năm 2021.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Ca nhạc ở Miệt Vườn (Sơn Nam, văn bản thông tin văn hóa); không phải nguyên văn tác phẩm.
Đoạn trích Văn minh Miệt Vườn trình bày môi trường sinh hoạt ca nhạc ở Nam Bộ và những giao lưu góp phần hình thành diện mạo văn hóa vùng. Người đọc cần theo dõi không gian, người tham gia và sự biến đổi loại hình, thay vì coi mọi tên gọi ca nhạc là hoàn toàn đồng nhất.
Sách bài ca in bằng chữ quốc ngữ và sinh hoạt gặp bạn góp phần lan truyền đờn ca. Bài giải thích tài tử theo hoàn cảnh xưa, rồi nối đờn ca tài tử với ca ra bộ, cải lương. Tống Hữu Định tổ chức ca ra bộ; gánh André Thận năm 1917 là một mốc. Sự phối hợp điệu hát cũ với cách sắp màn cảnh mới cho thấy giao lưu, không đồng nhất các loại hình.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu, văn tế); không phải nguyên văn tác phẩm.
Bài văn tưởng niệm những người nông dân đã chiến đấu và hi sinh chống quân xâm lược ở Cần Giuộc năm 1861. Từ cuộc sống lao động bình dị, họ bước vào trận đánh trong điều kiện thiếu thốn. Lời ngợi ca gắn với tiếng khóc cho người ngã xuống và gia đình còn lại.
Bài đối chiếu người quen nghề ruộng, xa lạ việc binh với hành động tự nguyện đánh đồn bằng vũ khí thô sơ. Sau hình ảnh xông trận là mẹ già khóc con và vợ tìm chồng. Văn bản viết theo phú Đường luật, dùng lối biền ngẫu; diễn ý chỉ giúp đọc mạch nghĩa, không thay nguyên tác khi khảo sát nhịp câu.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cộng đồng và cá thể (Albert Einstein, tiểu luận nghị luận); không phải nguyên văn tác phẩm.
Trong Thế giới như tôi thấy, Einstein bàn việc mỗi người thụ hưởng thành quả của cộng đồng, đồng thời sự tiến bộ cần những cá nhân độc lập và sáng tạo. Hai chiều phụ thuộc và đóng góp được đặt trong quan hệ tương hỗ. Lập luận không yêu cầu xóa cá tính để đổi lấy sự thuộc về.
Các ví dụ gồm thức ăn, áo, nhà, tri thức, ngôn ngữ do người khác góp phần tạo ra. Mặt khác, người tìm ra cách dùng lửa, trồng trọt và máy hơi nước minh họa vai trò sáng tạo cá nhân. Bài nhìn hai chiều rồi liên hệ nguy cơ đám đông mất độc lập; nhận xét thời đại thuộc bối cảnh tác giả, không tự áp nguyên cho hiện tại.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về “Làm việc” cũng là “làm người”! (Giản Tư Trung, nghị luận xã hội); không phải nguyên văn tác phẩm.
Đoạn trích từ Đúng việc đặt công việc trong quan hệ với nhân cách. Làm nghề không chỉ để có thu nhập mà còn bộc lộ cách đối xử với người khác và trách nhiệm đối với sản phẩm mình tạo ra. Lời bàn đặt ra yêu cầu làm người trong từng lựa chọn nghề nghiệp cụ thể.
Bài bắt đầu từ thắc mắc cân bằng việc làm và cuộc sống, nối đạo sống với đạo nghề, dùng lời dẫn về cống hiến cho người khác. Kết lại là hai hướng tự hỏi: có hiểu, làm tốt sứ mệnh nghề không và việc chọn có hợp con người mình không. Đó là cách kiểm tra giá trị bằng lựa chọn cụ thể.