Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ, hát nói): Chủ thể tự thuật con đường làm quan và lối sống sau khi rời quan trường. Ý thức về tài năng, công trạng và trách nhiệm tạo cơ sở cho thái độ không hoàn toàn lệ thuộc khen chê. Cái khác thường được thể hiện trong cả lựa chọn sống lẫn hình thức lời ca.
Chủ thể tự nhắc thủ khoa, tham tán, tổng đốc; sau cáo quan kể cưỡi bò vàng, dạo chùa, vui ca rượu mà vẫn tự nhận trọn đạo vua tôi. Hát nói là thể loại được xác định theo nguồn; bản diễn ý này không cho phép kiểm tra số tiếng, vần hay nhịp nguyên tác.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu, văn tế): Bài văn tưởng niệm những người nông dân đã chiến đấu và hi sinh chống quân xâm lược ở Cần Giuộc năm 1861. Từ cuộc sống lao động bình dị, họ bước vào trận đánh trong điều kiện thiếu thốn. Lời ngợi ca gắn với tiếng khóc cho người ngã xuống và gia đình còn lại.
Bài đối chiếu người quen nghề ruộng, xa lạ việc binh với hành động tự nguyện đánh đồn bằng vũ khí thô sơ. Sau hình ảnh xông trận là mẹ già khóc con và vợ tìm chồng. Văn bản viết theo phú Đường luật, dùng lối biền ngẫu; diễn ý chỉ giúp đọc mạch nghĩa, không thay nguyên tác khi khảo sát nhịp câu.
Cộng đồng và cá thể (Albert Einstein, tiểu luận nghị luận): Trong Thế giới như tôi thấy, Einstein bàn việc mỗi người thụ hưởng thành quả của cộng đồng, đồng thời sự tiến bộ cần những cá nhân độc lập và sáng tạo. Hai chiều phụ thuộc và đóng góp được đặt trong quan hệ tương hỗ. Lập luận không yêu cầu xóa cá tính để đổi lấy sự thuộc về.
Các ví dụ gồm thức ăn, áo, nhà, tri thức, ngôn ngữ do người khác góp phần tạo ra. Mặt khác, người tìm ra cách dùng lửa, trồng trọt và máy hơi nước minh họa vai trò sáng tạo cá nhân. Bài nhìn hai chiều rồi liên hệ nguy cơ đám đông mất độc lập; nhận xét thời đại thuộc bối cảnh tác giả, không tự áp nguyên cho hiện tại.
Tình huống vận dụng:
Một nhóm làm áp phích bảo vệ bờ sông. Minh muốn dùng ảnh đẹp chưa xin phép; Hòa đề nghị tự chụp và ghi nguồn. Nhóm chậm một ngày nhưng hoàn thành bằng ảnh do thành viên tạo, kèm ngày và địa điểm.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về “Làm việc” cũng là “làm người”! (Giản Tư Trung, nghị luận xã hội); không phải nguyên văn tác phẩm.
Đoạn trích từ Đúng việc đặt công việc trong quan hệ với nhân cách. Làm nghề không chỉ để có thu nhập mà còn bộc lộ cách đối xử với người khác và trách nhiệm đối với sản phẩm mình tạo ra. Lời bàn đặt ra yêu cầu làm người trong từng lựa chọn nghề nghiệp cụ thể.
Bài bắt đầu từ thắc mắc cân bằng việc làm và cuộc sống, nối đạo sống với đạo nghề, dùng lời dẫn về cống hiến cho người khác. Kết lại là hai hướng tự hỏi: có hiểu, làm tốt sứ mệnh nghề không và việc chọn có hợp con người mình không. Đó là cách kiểm tra giá trị bằng lựa chọn cụ thể.