Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Tác gia Hồ Chí Minh (Nhóm biên soạn sách giáo khoa, văn bản tác gia): Văn bản giới thiệu cuộc đời Hồ Chí Minh từ quê hương, việc học và dạy học đến hành trình ra nước ngoài năm 1911, hoạt động với tên Nguyễn Ái Quốc, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và trở về nước năm 1941. Vai trò lãnh đạo cách mạng, đọc Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và lãnh đạo kháng chiến tạo bối cảnh cho sự nghiệp viết. Phần văn học giải thích quan điểm sáng tác gắn với mục đích, người đọc, nội dung và hình thức phù hợp. Di sản được chia thành chính luận, truyện kí và thơ: chính luận có lập luận mạnh và tính thời sự; truyện kí kết hợp tình huống, châm biếm và kể chuyện hiện đại; thơ gồm sáng tác vận động quần chúng lẫn trữ tình, nổi bật Nhật kí trong tù. Phần cuối khái quát phong cách đa dạng theo đối tượng và thể loại nhưng thống nhất ở tinh thần nhân văn, yêu nước và sự kết hợp truyền thống với hiện đại. Khi bổ sung bối cảnh quốc tế, cần ghi đúng UNESCO thông qua nghị quyết kỉ niệm một trăm năm ngày sinh vào năm 1987, tổ chức kỉ niệm năm 1990; đây không phải một giải thưởng văn học.
Nghệ thuật băm thịt gà (Ngô Tất Tố, phóng sự): Người kể xưng tôi đến thăm Lăng Vân, một người bạn lâu năm, và tình cờ chứng kiến buổi mời xóm theo lệ làng. Từ đêm, nhà đã chuẩn bị xôi gà; sáng ra đàn ông già trẻ kéo đến đông, còn các bậc trên ngồi điều hành việc chia phần. Mõ làng Mới được lệnh chia một con gà với mâm xôi thành hai mươi ba cỗ, gồm phần ăn tại chỗ, phần chủ nhà, phần của mõ và phần gửi người vắng. Sự ít ỏi của thức ăn so với số cỗ khiến người kể tò mò ra xem tận nơi. Mới sửa mặt xôi, chuẩn bị dao thớt rồi chia riêng các bộ phận. Đầu gà và phao câu được chia theo số người thuộc các thứ bậc; những miếng nhỏ vẫn phải có dấu hiệu giống nhau. Đến thân gà, thao tác đều tay và tiếng dao nhịp nhàng khiến người quan sát kinh ngạc. Cuối cùng, chín mươi hai miếng thịt được gắn vào các phần xôi, vừa đủ bốn miếng mỗi cỗ. Lăng Vân giải thích nghề này truyền ba đời, và người kể gọi Mới là nghệ sĩ. Lời khen tài khéo đồng thời phơi bày sự cầu kì vô lí của hủ tục cùng trật tự ngôi thứ ở làng cũ.
Pa-ra-na (Claude Lévi-Strauss, văn bản thông tin, kí khảo cứu): Trong ghi chép về vùng Pa-ra-na ở miền nam Bra-xin, Lévi-Strauss kể lần theo một cán bộ cơ quan bảo vệ người bản địa tới khu vực cư trú của người Giê gần sông Ti-ba-gi. Ông đặt đời sống hiện tại vào lịch sử bị xâm lấn, truy đuổi và dồn vào các khu định cư. Những cơ sở như trường học, xưởng và nhà ở từng được dựng để ép họ theo mô hình đời sống do chính quyền lựa chọn, nhưng về sau bị bỏ mặc. Cư dân tiếp nhận một số vật dụng như quần áo, rìu, dao, kim, đồng thời vẫn chọn lối ở, thực phẩm và công cụ thích hợp với mình; nhiều thiết bị áp đặt không được dùng. Nhà quan sát ban đầu thất vọng vì họ không giống hình ảnh nguyên sơ mà ông tưởng tượng, rồi nhận ra chính định kiến của mình cần thay đổi. Đồ đá bên cạnh vật dụng kim loại, kĩ thuật tạo lửa và việc dùng cung cho thấy truyền thống không biến mất mà sống cùng những vay mượn mới. Kết đoạn trở lại những ngôi làng bỏ hoang và người đi trên đường rừng, nhấn mạnh sức bền của văn hóa trước chính sách cưỡng ép thiếu hiểu biết.
Vội vàng (Xuân Diệu, thơ trữ tình): Bài thơ mở đầu bằng khát vọng giữ nắng và gió để vẻ đẹp, hương sắc không phai. Từ mong muốn không thể thực hiện ấy, cái tôi trữ tình dựng bức tranh cuộc sống hiện tại đầy sức hấp dẫn: ong bướm, hoa lá, chim chóc, ánh sáng và buổi sớm đều trở nên gần gũi với tình yêu. Niềm vui lập tức đi cùng sự sốt ruột, vì người nói nhận ra thời gian đang trôi ngay trong lúc mùa xuân mới đến. Phần giữa lập luận rằng mùa có thể trở lại nhưng tuổi trẻ của một người không trở lại nguyên vẹn; đời người hữu hạn trước trời đất, khiến cảnh vật cũng nhuốm cảm giác chia lìa. Các câu hỏi và tiếng cảm thán diễn tả nỗi tiếc nuối trước sự tàn phai. Đoạn cuối đổi sang nhịp thúc giục, liên tiếp những động từ mạnh biểu lộ ước muốn đón nhận trọn vẹn thiên nhiên, tình yêu và tuổi trẻ khi chúng còn hiện hữu. Mạch cảm xúc đi từ say mê đến âu lo rồi thành lựa chọn sống tích cực. Tác phẩm đề cao trải nghiệm hiện tại có ý thức, không phải lời cổ vũ hưởng thụ liều lĩnh hoặc bỏ trách nhiệm.
Tình huống vận dụng:
Tình huống nguyên gốc: Huy đạt giải thiết kế nhưng phát hiện mẫu của mình khó dùng với người cao tuổi. Bạn muốn giữ nguyên bản từng đoạt giải; Huy đề nghị thử với người dùng và sửa dù có thể phải bỏ phần trang trí đẹp nhất.
Phân tích hoàn chỉnh: Đánh giá thành công cần tiêu chí. Giải thưởng ghi nhận một thời điểm, còn phản hồi người dùng cho biết một giới hạn mới. Văn học có thể gợi câu hỏi về trách nhiệm ấy, nhưng cách giải quyết phải dựa vào hoàn cảnh thực tế.
Tuyên ngôn Độc lập — tóm lược nguyên gốc bổ sung: Được Hồ Chí Minh đọc tại Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản tuyên ngôn mở đầu bằng những nguyên lí về tự do và bình đẳng từ các tuyên ngôn của Hoa Kỳ và Pháp, rồi mở rộng từ quyền con người đến quyền các dân tộc. Tiếp đó, văn bản đối chiếu những nguyên lí ấy với chính sách thực dân: tước quyền chính trị, đàn áp, khai thác kinh tế, đầu độc đời sống và làm nhân dân khốn cùng. Những sự kiện Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu hàng và cuộc đảo chính tháng 3 năm 1945 được dùng để bác bỏ luận điệu bảo hộ. Văn bản đồng thời nêu hành động nhân đạo của Việt Minh với người Pháp, xác lập rằng nhân dân Việt Nam tự giành chính quyền khi Nhật đầu hàng và chế độ quân chủ chấm dứt. Trên cơ sở đó, Chính phủ Lâm thời tuyên bố xóa quan hệ thuộc địa và các đặc quyền thực dân, kêu gọi cộng đồng quốc tế nhất quán với những nguyên tắc dân tộc bình đẳng đã thừa nhận. Phần kết khẳng định cả quyền độc lập lẫn thực tế độc lập, cùng quyết tâm bảo vệ bằng sức mạnh toàn dân.
Đồ dùng mây tre đan — tóm lược nguyên gốc bổ sung: Phan Cẩm Thượng bắt đầu từ hình ảnh xe thồ chở đồ đan ra chợ để giới thiệu một nghề gắn lâu đời với sinh hoạt nông thôn. Tre, nứa và mây được mô tả theo tính chất, nguồn nguyên liệu và các khâu chuẩn bị như chẻ, vót, làm vành. Từ đó văn bản phân loại vật dụng theo công năng: rá đan khít giữ gạo, rổ đan thưa cho rau và nước thoát; thúng, bồ, cót đáp ứng nhu cầu chứa lớn; giần, sàng, nong, nia phục vụ chế biến và phơi nông sản. Các loại hom, giỏ, dụng cụ đánh bắt, bu gà và đồ gia dụng mở rộng phạm vi sử dụng. Kĩ thuật đan phát triển từ kiểu đơn giản đến kiểu phức tạp, đòi hỏi kinh nghiệm, kiên nhẫn, sức khỏe và thẩm mĩ. Một gia đình xưa có thể dùng tre cho cả nhà cửa, giường, bàn ghế và đồ nhỏ; đồ hỏng được sửa hoặc thay. Mây bổ sung độ mềm, độ dai cho dây và vòng, còn vật liệu địa phương như lá cọ, lá dừa, bẹ ngô, gai kết hợp với tre. Những ví dụ và hình ảnh hiện vật trong bản in dựng lại văn minh vật chất, từ lao động và tiết kiệm đến phong tục, ngôn ngữ và bản sắc vùng miền.
Trở về — tóm lược nguyên gốc bổ sung: Sau khi bắt được con cá lớn nhưng bị cá mập ăn gần hết, Xan-ti-a-gô đưa chiếc thuyền với bộ xương về bến giữa đêm. Không ai giúp, ông phải tự buộc thuyền, vác cột buồm, nhiều lần dừng nghỉ và ngã vì kiệt sức trước khi vào lán ngủ. Sáng hôm sau, Ma-nô-lin nhìn đôi tay bị thương mà khóc, đi lấy cà phê và dặn mọi người để ông nghỉ. Các ngư dân đo bộ xương dài, thừa nhận quy mô phi thường của con cá. Trong cuộc trò chuyện, ông lão cảm thấy mình đã bị đánh bại; cậu bé phân biệt con cá với những gì xảy ra sau đó, vẫn tin và muốn lại đi biển cùng ông để học nghề. Họ nói về chăm sóc vết thương, thức ăn, tin tức, dụng cụ và chuyến đi sắp tới, tạo lại một viễn cảnh đời sống sau mất mát. Đến chiều, hai du khách nhìn bộ xương nhưng hiểu lầm lời bồi bàn về cá mập, không biết cuộc vật lộn phía sau. Trong lán, cậu bé vẫn ở bên, còn ông mơ về những con sư tử. Kết thúc đặt sự tổn thất vật chất cạnh tình bạn, sự truyền nghề và sức sống tinh thần chưa mất.
Bảng ôn tập đã hoàn thành:
| Văn bản | Dữ kiện và tổ chức nổi bật | Nhận định có căn cứ |
|---|
| Tuyên ngôn Độc lập | Dẫn nguyên lí của chính các nước phương Tây đặt lời tuyên bố trên nền tảng phổ quát; bước mở rộng sang quyền dân tộc là cầu nối lập luận, không chỉ là trang trí bằng lời nổi tiếng. | Chuỗi chứng cứ chính trị, kinh tế và các sự kiện 1940–1945 bác bỏ từng cơ sở biện hộ của thực dân. Sự đối lập giữa lời khai hóa và việc làm áp bức khiến lí lẽ có sức tố cáo. |
| Nghệ thuật băm thịt gà | Người kể chuyển từ nghe động tĩnh ban đêm đến quan sát trực tiếp cảnh chia cỗ, khiến phát hiện của độc giả đi cùng sự ngạc nhiên của nhân chứng. Đây là một cách tổ chức phóng sự chứ không phải lời kể toàn tri. | Con số hai mươi ba cỗ từ một con gà và cách chia đầu, phao theo thứ bậc cho thấy giá trị phần ăn bị thay bằng nghi thức địa vị. Tài khéo của Mới tồn tại trong một hệ thống hủ tục gây phiền toái. |
| Đồ dùng mây tre đan | Đối chiếu rá khít giữ hạt và rổ thưa thoát nước cho thấy cấu tạo được giải thích bằng công năng, không chỉ nêu danh mục. Đây là bằng chứng bằng lời đã có trong bản tóm lược, không cần một ảnh chưa được cung cấp. | Trình tự nguyên liệu, kĩ thuật, sản phẩm và đời sống giúp người đọc đi từ vật cụ thể đến tri thức văn hóa. Khả năng tận dụng nhiều phần của cây và sửa đồ thể hiện kinh nghiệm tiết kiệm chứ không chứng minh mọi đồ tre luôn bền hoặc an toàn hơn vật liệu khác. |
| Trở về | Những lần dừng nghỉ với cột buồm cho thấy cái giá thân thể cụ thể, tránh biến người anh hùng thành người không biết đau. Bộ xương vừa là dấu tích thất bại thương mại vừa chứng minh thành tựu lao động. | Nước mắt, cà phê và lời muốn học tiếp của Ma-nô-lin làm tình yêu thương hiện ra bằng hành động. Kế hoạch tương lai tạo sức nâng tinh thần nhưng việc hồi phục sức khỏe vẫn cần được ưu tiên. |
Tôi dùng cùng hai cột dữ kiện – cách tạo nghĩa để đối chiếu, không đánh đồng thể loại hoặc lấy lời tóm lược làm câu trích nguyên tác.