Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Tác gia Hồ Chí Minh (Nhóm biên soạn sách giáo khoa, văn bản tác gia): Văn bản giới thiệu cuộc đời Hồ Chí Minh từ quê hương, việc học và dạy học đến hành trình ra nước ngoài năm 1911, hoạt động với tên Nguyễn Ái Quốc, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và trở về nước năm 1941. Vai trò lãnh đạo cách mạng, đọc Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và lãnh đạo kháng chiến tạo bối cảnh cho sự nghiệp viết. Phần văn học giải thích quan điểm sáng tác gắn với mục đích, người đọc, nội dung và hình thức phù hợp. Di sản được chia thành chính luận, truyện kí và thơ: chính luận có lập luận mạnh và tính thời sự; truyện kí kết hợp tình huống, châm biếm và kể chuyện hiện đại; thơ gồm sáng tác vận động quần chúng lẫn trữ tình, nổi bật Nhật kí trong tù. Phần cuối khái quát phong cách đa dạng theo đối tượng và thể loại nhưng thống nhất ở tinh thần nhân văn, yêu nước và sự kết hợp truyền thống với hiện đại. Khi bổ sung bối cảnh quốc tế, cần ghi đúng UNESCO thông qua nghị quyết kỉ niệm một trăm năm ngày sinh vào năm 1987, tổ chức kỉ niệm năm 1990; đây không phải một giải thưởng văn học.
Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh, văn chính luận): Được Hồ Chí Minh đọc tại Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản tuyên ngôn mở đầu bằng những nguyên lí về tự do và bình đẳng từ các tuyên ngôn của Hoa Kỳ và Pháp, rồi mở rộng từ quyền con người đến quyền các dân tộc. Tiếp đó, văn bản đối chiếu những nguyên lí ấy với chính sách thực dân: tước quyền chính trị, đàn áp, khai thác kinh tế, đầu độc đời sống và làm nhân dân khốn cùng. Những sự kiện Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu hàng và cuộc đảo chính tháng 3 năm 1945 được dùng để bác bỏ luận điệu bảo hộ. Văn bản đồng thời nêu hành động nhân đạo của Việt Minh với người Pháp, xác lập rằng nhân dân Việt Nam tự giành chính quyền khi Nhật đầu hàng và chế độ quân chủ chấm dứt. Trên cơ sở đó, Chính phủ Lâm thời tuyên bố xóa quan hệ thuộc địa và các đặc quyền thực dân, kêu gọi cộng đồng quốc tế nhất quán với những nguyên tắc dân tộc bình đẳng đã thừa nhận. Phần kết khẳng định cả quyền độc lập lẫn thực tế độc lập, cùng quyết tâm bảo vệ bằng sức mạnh toàn dân.
Mộ (Hồ Chí Minh, thơ chữ Hán, thất ngôn tứ tuyệt): Bài thơ Chiều tối được viết trong thời gian Hồ Chí Minh bị giam giữ và chuyển lao ở Trung Quốc năm 1942–1943. Hai câu đầu phác một buổi chiều nơi núi rừng: chim đã mỏi tìm chỗ nghỉ, một đám mây đơn chiếc chậm rãi đi qua bầu trời. Những nét ít ỏi làm hiện ra không gian rộng và thời điểm ngày sắp hết, đồng thời gợi sự cô quạnh của người đang trên đường. Hai câu sau đưa tầm nhìn đến một cô gái xóm núi xay ngô. Công việc tiến dần đến lúc hoàn thành và bếp lửa được đốt lên, làm bức tranh chuyển từ khoảng trời xa đến nhịp sống gần gũi. Bài thơ không kể trực tiếp những gông cùm, cũng không tuyên bố vượt khó bằng khẩu hiệu; sức sống hiện lên qua sự quan tâm của người tù đối với lao động, hơi ấm và sinh hoạt bình thường. Toàn bài vận động từ chiều muộn đến ánh lửa, từ thiên nhiên vắng đến con người đang làm việc. Khi so sánh bản dịch, cần chú ý sắc thái mệt mỏi, lẻ loi và sự tiếp nối của động tác xay ngô trong nguyên tác.
Nguyên tiêu (Hồ Chí Minh, thơ chữ Hán, thất ngôn tứ tuyệt): Bài thơ Rằm tháng Giêng được sáng tác năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Mở đầu là đêm đầu xuân có vầng trăng tròn đầy. Không gian sông nước tiếp với bầu trời, sức xuân lan khắp cảnh vật chứ không bị chia cắt thành những mảng riêng. Đến câu thứ ba, hoạt động của con người xuất hiện: giữa nơi sương khói trên sông, một cuộc bàn bạc việc quân đang diễn ra. Vì vậy, vẻ yên tĩnh không đồng nghĩa với thoát li trách nhiệm; nhà thơ đồng thời là người lãnh đạo công việc kháng chiến. Câu cuối đưa thời gian đến nửa đêm khi thuyền trở về, ánh trăng như tràn đầy trong thuyền. Hình ảnh khép lại vừa giữ vẻ đẹp cổ điển của trăng, sông và thuyền, vừa mang tâm thế chủ động của con người trong hoàn cảnh lịch sử mới. Bài thơ đi từ toàn cảnh thiên nhiên tới việc quân rồi lại hòa con người vào ánh sáng, tạo cảm giác ung dung và tin tưởng dù cuộc kháng chiến còn gian khó.
Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (Nguyễn Ái Quốc, truyện ngắn trào phúng): Nguyễn Ái Quốc viết truyện bằng tiếng Pháp năm 1925 khi Phan Bội Châu bị bắt và Va-ren chuẩn bị nhận chức Toàn quyền Đông Dương. Người kể đặt câu hỏi châm biếm về lời hứa can thiệp của Va-ren rồi tưởng tượng hành trình của ông ta: đi tàu, dự tiếp đón ở Sài Gòn, qua Huế nhận nghi lễ và huân chương, trong khi người yêu nước vẫn ở tù. Ở cuộc gặp được hư cấu tại nhà lao, Va-ren tuyên bố đem lại tự do nhưng đòi Phan Bội Châu từ bỏ đấu tranh và hợp tác với thực dân. Ông ta khoe những người từng đổi lập trường để được quyền lợi, lấy cả con đường chính trị của mình làm gương. Phan Bội Châu giữ im lặng; sự có mặt của phiên dịch cho thấy đây không phải bất đồng ngôn ngữ mà là khoảng cách về lí tưởng. Cuối truyện, lời người lính kể về một nụ cười kín đáo được bổ sung bằng lời nhân chứng khác trong phần tái bút về một hành động khinh bỉ. Những lớp kể khác nhau tăng giọng mỉa mai, không biến cuộc gặp tưởng tượng thành một biên bản lịch sử.
Tình huống vận dụng:
Một người viết hai văn bản về buổi quyên góp sách: thư mời cần ngày, giờ, đối tượng và cách tham gia; nhật kí lại kể cảm xúc khi thấy tên bạn cũ trong một cuốn sách. Cả hai cùng hướng tới sẻ chia nhưng có hình thức và người đọc khác nhau.
Phân tích hoàn chỉnh: Cùng giá trị không dẫn đến cùng cách biểu đạt. Thư mời ưu tiên thông tin hành động; nhật kí lưu trải nghiệm cá nhân. Đọc tác gia cần xác định nhiệm vụ của từng văn bản thay vì áp một công thức.
Bảng ôn tập đã hoàn thành:
| Văn bản | Dữ kiện và tổ chức nổi bật | Nhận định có căn cứ |
|---|
| Tác gia Hồ Chí Minh | Mạch tiểu sử được lựa chọn để giải thích hoạt động viết: những trải nghiệm quốc tế giúp tác giả sử dụng nhiều ngôn ngữ, còn nhiệm vụ cách mạng chi phối đề tài và đối tượng tiếp nhận. Không thay việc phân tích tác phẩm bằng kể thành tích. | Ba bộ phận có phương thức khác nhau: Tuyên ngôn Độc lập thuyết phục bằng lí lẽ và chứng cứ, Những trò lố dùng tình huống tưởng tượng để châm biếm, còn Nguyên tiêu kết hợp việc quân với cảm hứng thiên nhiên. |
| Tuyên ngôn Độc lập | Dẫn nguyên lí của chính các nước phương Tây đặt lời tuyên bố trên nền tảng phổ quát; bước mở rộng sang quyền dân tộc là cầu nối lập luận, không chỉ là trang trí bằng lời nổi tiếng. | Chuỗi chứng cứ chính trị, kinh tế và các sự kiện 1940–1945 bác bỏ từng cơ sở biện hộ của thực dân. Sự đối lập giữa lời khai hóa và việc làm áp bức khiến lí lẽ có sức tố cáo. |
Tôi dùng cùng hai cột dữ kiện – cách tạo nghĩa để đối chiếu, không đánh đồng thể loại hoặc lấy lời tóm lược làm câu trích nguyên tác.