Ngữ văn 11
Ngữ vănLớp 11Bài 5. Nhân vật và xung đột trong bi kịch

Ôn tập học kì I

Mục tiêu bài học

  • Vận dụng được xung đột bi kịch, độc thoại, hành động kịch vào nhiệm vụ cụ thể.
  • Tạo sản phẩm có căn cứ và tự chỉnh sửa theo tiêu chí.

Bài giảng

Công cụ và giới hạn sử dụng

Xung đột bi kịch. Va chạm gay gắt giữa những lực lượng hoặc giá trị khó dung hòa. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Độc thoại. Lời nhân vật hướng vào chính mình, làm hiện ra suy nghĩ trên sân khấu. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Hành động kịch. Sự lựa chọn và ứng xử đẩy tình thế kịch phát triển. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Bảng tự kiểm: Với mỗi văn bản, ghi thể loại, dữ kiện trung tâm, dấu hiệu hình thức và một nhận định có thể chứng minh. Khi so sánh, dùng cùng tiêu chí nhưng không ép các thể loại khác nhau vào cùng cách đọc.

Thực hành có hướng dẫn

Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.

Vợ nhặt (Kim Lân, truyện ngắn): Giữa nạn đói năm 1945, Tràng đưa một người phụ nữ xa lạ về làm vợ. Bà cụ Tứ bất ngờ, rồi đón nhận con dâu trong thương cảm và lo âu. Buổi sáng sau ngày cưới, căn nhà được thu dọn; bữa ăn nghèo vẫn chứa lời hướng về tương lai. Cuối truyện, trong suy nghĩ của Tràng xuất hiện đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ.

Cuộc kết đôi bắt đầu sau lần gặp có bốn bát bánh đúc. Sáng hôm sau Tràng thấy gắn bó với nhà và có bổn phận lo cho gia đình. Bà cụ Tứ bàn chuyện mua gà; cháo hết, cả nhà phải ăn cám trong im lặng.

Nhớ đồng (Tố Hữu, thơ trữ tình): Từ cảnh tù ngục, chủ thể trữ tình nhớ không gian đồng quê, người lao động và cuộc sống tự do. Mạch hồi tưởng không dừng ở phong cảnh mà gắn với con đường đến lí tưởng cách mạng. Sự trở đi trở lại của nỗi nhớ làm khoảng cách giữa nơi giam hãm và thế giới bên ngoài thêm rõ.

Tiếng hò ngoài nhà giam khơi nhớ đồng, người cày, tay gieo hạt, mẹ và người thân. Các lượt cảm thán về buổi trưa cô quạnh cùng những lượt hỏi tìm trở lại, xen hồi tưởng lúc còn băn khoăn và lúc tìm thấy lí tưởng.

Cầu hiền chiếu (Ngô Thì Nhậm, chiếu): Ngô Thì Nhậm soạn lời chiếu theo chủ trương của vua Quang Trung, kêu gọi người hiền tài ra giúp nước. Văn bản nêu lẽ người tài cần được sử dụng, nhìn lại tình trạng sĩ phu còn dè dặt và trình bày nhu cầu xây dựng đất nước. Lời mời đi kèm những con đường tiến cử, tự tiến cử.

Lời chiếu gợi người hiền như sao sáng hướng về Bắc Thần, đối chiếu việc sĩ phu còn ẩn mình với tình thế cần dựng xây đất nước. Người được mời có thể tự trình bày hoặc được người khác tiến cử theo khả năng.

Lời tiễn dặn (Dân gian dân tộc Thái, truyện thơ dân gian): Đoạn trích Tiễn dặn người yêu kể việc chàng trai tiễn cô gái phải lấy người khác. Chứng kiến đau khổ của người yêu, chàng vừa chăm sóc vừa bày tỏ sự gắn bó. Những sự kiện chia lìa và những lời thề quấn vào nhau, thể hiện khát vọng tự do yêu đương trước sức ép của hoàn cảnh.

Đoạn trích ghép hai tình huống: tiễn nàng về nhà chồng và chăm sóc khi nàng bị nhà chồng đánh đập. Chàng sửa tóc, áo, sắc thuốc; lời gắn bó được nói qua các mùa, tuổi tác và hình dung hóa thành nước, đất, cây cỏ. Phần giới thiệu toàn truyện có cuộc tái hợp về sau, nhưng hai lời tiễn dặn chưa trực tiếp diễn cuộc đoàn tụ ấy.

Sống, hay không sống – đó là vấn đề (William Shakespeare, bi kịch): Trong Hăm-lét, hoàng tử đối diện tội ác ở triều đình và tự vấn về tồn tại, chịu đựng, hành động. Độc thoại làm hiện ra những khả năng trái ngược trong tâm trí. Cuộc đối thoại với Ô-phê-li-a còn diễn ra trong bối cảnh bị theo dõi, nên lời nói không thể tách khỏi nguy cơ và sự hoài nghi.

Clô-đi-út cùng Pô-lô-ni-út dàn cuộc gặp Ô-phê-li-a để nghe lén. Hăm-lét độc thoại về chịu đựng, chống lại bất công và nỗi sợ cái chưa biết sau cái chết; sau đó đối thoại với nàng khi nàng trả kỉ vật. Khán giả biết cảnh bị theo dõi nhưng không nên tự khẳng định nhân vật biết rõ mọi vị trí người nghe lén.

Tình huống vận dụng:
Kịch ngắn nguyên gốc: Người kiến trúc sư muốn giữ một chiếc cầu cũ vì giá trị lịch sử. Người dân báo rằng cầu đã mất an toàn. Anh nhìn bản vẽ và tự hỏi liệu giữ hình dáng có còn nghĩa gì nếu người qua cầu gặp nguy hiểm. Cả hai phía phải quyết định trước mùa mưa.

Sản phẩm mẫu có căn cứ: Cây cầu buộc kiến trúc sư đứng giữa bảo tồn và an toàn. Báo động của người dân tạo áp lực từ bên ngoài, còn lời anh tự hỏi làm hiện ra độc thoại nội tâm. Chưa có một quyết định được thực hiện, nên hành động kịch mới ở giai đoạn cân nhắc trước hạn mùa mưa. Tôi phân biệt cái đã được nói với cái chưa xảy ra để tránh bịa một tai nạn hoặc sự hi sinh. Xung đột có thể gợi cách đọc bi kịch, nhưng đoạn ngắn chưa đủ xác nhận kết cục không thể đảo ngược.

Hệ thống hóa kiến thức đã học; Luyện tập và vận dụng

Vợ nhặt: truyện ngắn. Lòng cưu mang không xóa đói khát nhưng mở một cách sống có trách nhiệm với người khác. Dấu hiệu cần phân tích: Tình huống lấy vợ giữa nạn đói đặt sự sống cạnh cái chết; điểm nhìn dịch chuyển giúp thấy cả ngỡ ngàng của Tràng lẫn lòng thương của bà cụ Tứ; chi tiết bữa ăn làm hi vọng không thoát li cảnh đói.

Nhớ đồng: thơ trữ tình. Nhớ quê và khát vọng tự do liên kết thành một động lực tinh thần. Dấu hiệu cần phân tích: Không gian hiện tại bị giam hãm đối lập miền quê hồi tưởng; hình ảnh con người mở rộng nỗi nhớ cảnh thành tình yêu cuộc sống; điệp cấu trúc tạo nhịp cảm xúc quay về rồi dâng lên.

Cầu hiền chiếu: chiếu. Cầu tài là việc chung của đất nước, không chỉ là sự ban ơn của người cầm quyền. Dấu hiệu cần phân tích: Thẩm quyền chính trị kết hợp thái độ cầu thị; lập luận chuyển từ nguyên lí đến tình thế rồi hành động; đối tượng thuyết phục cụ thể quyết định cách viện dẫn và giọng điệu.

Lời tiễn dặn: truyện thơ dân gian. Lời yêu thương có sức nặng vì được nâng đỡ bằng hành động chăm sóc cụ thể. Dấu hiệu cần phân tích: Sự kiện tiễn đưa tạo trục tự sự; lời trực tiếp đưa cảm xúc vào chuỗi hành động; hình ảnh và lối lặp gắn với phương thức lưu truyền dân gian.

Sống, hay không sống – đó là vấn đề: bi kịch. Sự do dự là dấu hiệu của xung đột tư tưởng và đạo đức, không chỉ là yếu đuối. Dấu hiệu cần phân tích: Độc thoại biến xung đột nội tâm thành lời trên sân khấu; câu hỏi và đối lập làm rõ quá trình cân nhắc; hoàn cảnh bị theo dõi tạo chênh lệch giữa điều nhân vật nói và điều người nghe hiểu.

Hệ thống hóa toàn bài hoặc học kì

Bảng hệ thống hóa nguyên gốc:

Văn bảnĐịnh vị theo hồ sơDấu hiệu và tác dụng cần nhớ
Vợ nhặtKim Lân, truyện ngắnTràng nhận một người đàn bà về làm vợ sau cuộc gặp gắn với bốn bát bánh đúc, giữa nạn đói. Sự dễ dàng khác thường của việc kết đôi làm hiện rõ thân phận bị đói khát đẩy đến bấp bênh; đồng thời, việc đón nhận một người khác vẫn mở ra khả năng cưu mang.
Chí PhèoNam Cao, truyện ngắnTiếng chửi mở đầu không được dân làng đáp lại. Việc có tiếng nói mà không có đối thoại khiến sự cô độc hiện ra trước cả lời giải thích tiểu sử; người đọc phải hỏi vì sao một người sống giữa làng lại bị loại khỏi quan hệ thông thường.
Cải ơi!Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắnÔng Năm Nhỏ đi tìm Cải gần mười hai năm; mạch truyện ở ngã ba Sương xen việc kể lại lí do cô bé bỏ nhà. Quãng hiện tại nối với quá khứ làm người đọc thấy một cuộc kiếm tìm chưa dứt, chứ không chỉ một chuyến đi có đích đã biết.
Nhớ đồngTố Hữu, thơ trữ tìnhTiếng hò từ bên ngoài khơi dậy những cánh đồng, luống cày và xóm nhà trong kí ức của người tù. Không gian giam giữ càng hẹp thì thế giới hồi tưởng càng đáng quý; cảnh quê mang ý nghĩa của cuộc sống đang bị cách biệt.
Tràng giangHuy Cận, thơ trữ tìnhCành củi khô và những dải bèo trôi được đặt trong sông dài, trời rộng. Tương phản giữa vật nhỏ lênh đênh và không gian nhiều chiều làm sự sống có vẻ thiếu điểm tựa; cảnh rộng không đồng nghĩa với tâm thế tự do.
Con đường mùa đôngA-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin, thơ trữ tìnhXe tam mã vẫn đi giữa tuyết, người đi nghe lục lạc lặp đều và bài ca khi vui khi buồn của xà ích. Âm thanh không xóa được khoảng trống thiếu mái nhà, ánh lửa; nó làm rõ một con người đang tự tìm chỗ dựa tinh thần trên đường xa.
Thời gianVăn Cao, thơ tự doLá khô và kỉ niệm rơi xuống lòng giếng cạn diễn tả sự hao hụt, sau đó thơ và âm nhạc lại mang sức sống bền xanh. Bước chuyển đặt hai chiều mất mát và gìn giữ cạnh nhau, tạo trục đối lập cho toàn bài.
Cầu hiền chiếuNgô Thì Nhậm, chiếuChủ thể ban chiếu là vua Quang Trung nhưng lời nói nhận tình thế cần người giúp và mở đường tiến cử, tự tiến cử. Quyền uy đi cùng thái độ cầu thị làm lời gọi có khả năng thuyết phục sĩ phu còn dè dặt, thay vì chỉ gây sức ép phục tùng.
Tôi có một ước mơMartin Luther King Jr., diễn văn nghị luậnDiễn giả đặt lời hứa về bình đẳng bên cạnh tình trạng người da đen còn bị cản trở đi lại, nghỉ ngơi và bầu cử. Đòi hỏi thay đổi vì thế được trình bày như thực hiện một cam kết công lí, không phải xin một đặc ân.
Một thời đại trong thi caHoài Thanh, phê bình văn họcHoài Thanh yêu cầu so sánh những bài hay với nhau và nhìn vào xu hướng chung, vì cái mới vẫn có phần kế thừa cái cũ. Đặt nguyên tắc ấy trước kết luận giúp việc nhận diện Thơ mới không phụ thuộc một ví dụ dễ gây thiên lệch.
Tiếp xúc với tác phẩmThái Bá Vân, nghị luận về nghệ thuậtCùng bức Em Thúy có mặt vật liệu như vải, sơn, khung và có đời sống hình tượng trong cảm nhận. Phân biệt hai bình diện giúp thấy đo đếm đồ vật chưa đủ nói hết giá trị nghệ thuật, dù hình tượng vẫn cần một hình thức mang nó.
Lời tiễn dặnDân gian dân tộc Thái, truyện thơ dân gianLời tiễn thứ nhất gắn với đường cô gái về nhà chồng; lời thứ hai gắn với việc nàng bị đánh đập ở nhà chồng. Hai tình huống tạo trục kể cho lời thương nhớ và thề nguyền, không phải hai lời than không có hoàn cảnh.
Dương phụ hànhCao Bá Quát, thơ chữ Hán, thể hànhTrong đêm trên biển, người quan sát thấy một thiếu phụ phương Tây ngồi cạnh chồng. Tình huống gặp gỡ ngắn đưa một nếp bộc lộ tình cảm khác với khuôn phép quen thuộc vào tầm nhìn của nhà Nho đi xa.
Thuyền và biểnXuân Quỳnh, thơ trữ tìnhThuyền luôn muốn khám phá và biển bao la gắn bó, thấu hiểu hành trình ấy. Hai hình tượng được tổ chức trong quan hệ đi – ở, hiểu – nhớ, nên ý nghĩa tình yêu nảy sinh từ tương tác chứ không từ hai vật được tả riêng.
Nàng Ờm nhắn nhủDân gian dân tộc Mường, truyện thơ dân gianNàng Ờm tự kể với những người còn sống sau khi cùng Bồng Hương chịu bi kịch vì tình yêu bị ngăn cấm. Ngôi kể nhân vật làm lời nhắn có sức nặng của người từng trải đau khổ, không phải lời phán xét từ bên ngoài.
Sống, hay không sống – đó là vấn đềWilliam Shakespeare, bi kịchHăm-lét tự đặt hai khả năng chịu đựng hay chống lại điều bất công, rồi nghĩ về nỗi sợ cái chưa biết sau cái chết. Độc thoại đưa quá trình suy nghĩ thành một hành động tinh thần trên sân khấu: nhân vật chưa dễ tìm được quyết định dù nhận ra sự mục ruỗng.
Vĩnh biệt Cửu Trùng ĐàiNguyễn Huy Tưởng, bi kịchCuộc chống lại triều đình xa xỉ đan với sự đổ vỡ giấc mơ nghệ thuật của Vũ Như Tô. Cửu Trùng Đài vừa chứa khát vọng làm đẹp vừa gắn với hao tốn, chết chóc của dân và thợ; thấy cả hai mới tránh biến xung đột thành việc một bên hoàn toàn đúng.
Prô-mê-tê bị xiềngÉt-sin (Aeschylus), theo quy thuộc trong sách, bi kịch Hy LạpPrô-mê-tê bị xiềng nhưng vẫn kể rõ việc mình dám ngăn Dớt hủy diệt loài người. Thân thể bị khống chế đối lập tiếng nói không từ bỏ lựa chọn, làm bản lĩnh nhân vật hiện lên qua lời đối thoại chứ không cần một cuộc giải thoát trên sân khấu.

Khi vận dụng, tôi nêu dữ kiện trước rồi giải thích cách tổ chức; không dùng một thể loại làm khuôn duy nhất cho tất cả. Các nhận xét về âm luật cần nguyên tác, không suy từ bản diễn ý.

Khái niệm chính

Xung đột bi kịch
Va chạm gay gắt giữa những lực lượng hoặc giá trị khó dung hòa.
Độc thoại
Lời nhân vật hướng vào chính mình, làm hiện ra suy nghĩ trên sân khấu.
Hành động kịch
Sự lựa chọn và ứng xử đẩy tình thế kịch phát triển.

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Xử lí trọn vẹn tình huống đã cho.

    Xem lời giải

    Cây cầu buộc kiến trúc sư đứng giữa bảo tồn và an toàn. Báo động của người dân tạo áp lực từ bên ngoài, còn lời anh tự hỏi làm hiện ra độc thoại nội tâm. Chưa có một quyết định được thực hiện, nên hành động kịch mới ở giai đoạn cân nhắc trước hạn mùa mưa. Tôi phân biệt cái đã được nói với cái chưa xảy ra để tránh bịa một tai nạn hoặc sự hi sinh. Xung đột có thể gợi cách đọc bi kịch, nhưng đoạn ngắn chưa đủ xác nhận kết cục không thể đảo ngược.

Ghi nhớ

Xung đột bi kịch → Độc thoại → Hành động kịch: vận dụng vào dữ kiện, giải thích tác dụng và tự kiểm tra giới hạn kết luận.

Dễ nhầm

  • Không coi ví dụ giả định là dữ kiện thực tế; không chép định nghĩa thay cho thao tác.

Bài tập

Đã đúng 0/4 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.

    Vợ nhặt (Kim Lân, truyện ngắn): Giữa nạn đói năm 1945, Tràng đưa một người phụ nữ xa lạ về làm vợ. Bà cụ Tứ bất ngờ, rồi đón nhận con dâu trong thương cảm và lo âu. Buổi sáng sau ngày cưới, căn nhà được thu dọn; bữa ăn nghèo vẫn chứa lời hướng về tương lai. Cuối truyện, trong suy nghĩ của Tràng xuất hiện đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ.

    Cuộc kết đôi bắt đầu sau lần gặp có bốn bát bánh đúc. Sáng hôm sau Tràng thấy gắn bó với nhà và có bổn phận lo cho gia đình. Bà cụ Tứ bàn chuyện mua gà; cháo hết, cả nhà phải ăn cám trong im lặng.

    Nhớ đồng (Tố Hữu, thơ trữ tình): Từ cảnh tù ngục, chủ thể trữ tình nhớ không gian đồng quê, người lao động và cuộc sống tự do. Mạch hồi tưởng không dừng ở phong cảnh mà gắn với con đường đến lí tưởng cách mạng. Sự trở đi trở lại của nỗi nhớ làm khoảng cách giữa nơi giam hãm và thế giới bên ngoài thêm rõ.

    Tiếng hò ngoài nhà giam khơi nhớ đồng, người cày, tay gieo hạt, mẹ và người thân. Các lượt cảm thán về buổi trưa cô quạnh cùng những lượt hỏi tìm trở lại, xen hồi tưởng lúc còn băn khoăn và lúc tìm thấy lí tưởng.

    Cầu hiền chiếu (Ngô Thì Nhậm, chiếu): Ngô Thì Nhậm soạn lời chiếu theo chủ trương của vua Quang Trung, kêu gọi người hiền tài ra giúp nước. Văn bản nêu lẽ người tài cần được sử dụng, nhìn lại tình trạng sĩ phu còn dè dặt và trình bày nhu cầu xây dựng đất nước. Lời mời đi kèm những con đường tiến cử, tự tiến cử.

    Lời chiếu gợi người hiền như sao sáng hướng về Bắc Thần, đối chiếu việc sĩ phu còn ẩn mình với tình thế cần dựng xây đất nước. Người được mời có thể tự trình bày hoặc được người khác tiến cử theo khả năng.

    Lời tiễn dặn (Dân gian dân tộc Thái, truyện thơ dân gian): Đoạn trích Tiễn dặn người yêu kể việc chàng trai tiễn cô gái phải lấy người khác. Chứng kiến đau khổ của người yêu, chàng vừa chăm sóc vừa bày tỏ sự gắn bó. Những sự kiện chia lìa và những lời thề quấn vào nhau, thể hiện khát vọng tự do yêu đương trước sức ép của hoàn cảnh.

    Đoạn trích ghép hai tình huống: tiễn nàng về nhà chồng và chăm sóc khi nàng bị nhà chồng đánh đập. Chàng sửa tóc, áo, sắc thuốc; lời gắn bó được nói qua các mùa, tuổi tác và hình dung hóa thành nước, đất, cây cỏ. Phần giới thiệu toàn truyện có cuộc tái hợp về sau, nhưng hai lời tiễn dặn chưa trực tiếp diễn cuộc đoàn tụ ấy.

    Sống, hay không sống – đó là vấn đề (William Shakespeare, bi kịch): Trong Hăm-lét, hoàng tử đối diện tội ác ở triều đình và tự vấn về tồn tại, chịu đựng, hành động. Độc thoại làm hiện ra những khả năng trái ngược trong tâm trí. Cuộc đối thoại với Ô-phê-li-a còn diễn ra trong bối cảnh bị theo dõi, nên lời nói không thể tách khỏi nguy cơ và sự hoài nghi.

    Clô-đi-út cùng Pô-lô-ni-út dàn cuộc gặp Ô-phê-li-a để nghe lén. Hăm-lét độc thoại về chịu đựng, chống lại bất công và nỗi sợ cái chưa biết sau cái chết; sau đó đối thoại với nàng khi nàng trả kỉ vật. Khán giả biết cảnh bị theo dõi nhưng không nên tự khẳng định nhân vật biết rõ mọi vị trí người nghe lén.

    Tình huống vận dụng:
    Kịch ngắn nguyên gốc: Người kiến trúc sư muốn giữ một chiếc cầu cũ vì giá trị lịch sử. Người dân báo rằng cầu đã mất an toàn. Anh nhìn bản vẽ và tự hỏi liệu giữ hình dáng có còn nghĩa gì nếu người qua cầu gặp nguy hiểm. Cả hai phía phải quyết định trước mùa mưa.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Chí Phèo (Nam Cao, truyện ngắn); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Chí Phèo từng là người làm thuê hiền lành. Sau tù đày, Chí trở về làng Vũ Đại trong tình trạng tha hóa và bị Bá Kiến lợi dụng. Sự chăm sóc của thị Nở đánh thức nhu cầu trở lại đời sống lương thiện. Sự cự tuyệt gắn với định kiến làm con đường ấy bế tắc; Chí giết Bá Kiến rồi tự sát.

    Truyện mở bằng tiếng chửi không được đáp, rồi mới ngược về quãng đời trước. Thị Nở nấu cháo hành khi Chí ốm; nhận chăm sóc, Chí ngạc nhiên và muốn sống lương thiện. Bà cô ngăn thị Nở, khiến hi vọng chung sống bế tắc. Cuối truyện thị thoáng nghĩ tới lò gạch cũ, không phải câu chuyện xác nhận đã sinh một đứa trẻ.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cải ơi! (Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Cải, con riêng của vợ ông Năm Nhỏ, bỏ đi sau khi làm mất trâu. Ông Năm rời quê tìm con qua nhiều năm; lời đồn ở quê lại khiến ông mang tiếng làm hại con. Ông tìm cả cơ hội xuất hiện trên truyền hình để gọi tên Cải. Cuộc tìm kiếm cho thấy một tình phụ tử không phụ thuộc huyết thống.

    Ở ngã ba Sương, ông sống cùng Quách Phú Thàn và gặp Diễm Thương. Cô giả làm Cải rồi thú nhận là trò đùa; bản thân cô cũng từng bị cha mẹ bỏ rơi. Cuối truyện ông cố tình trộm đôi trâu rồi quay lại giả vờ rao bán cho chính chủ để bị bắt, mong được truyền hình phỏng vấn và gọi con. Hai lời kể nghe đâu về việc phát tin đều giữ nỗi tuyệt vọng vì lời gọi không tới được người cần nghe; không có cảnh đoàn tụ.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Tràng giang (Huy Cận, thơ trữ tình); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Trước không gian sông nước rộng lớn, chủ thể cảm thấy nhỏ bé và cô đơn. Những vật thể trôi dạt, những bờ bãi xa cách và khoảng trời cao mở nhiều chiều không gian. Nỗi nhớ quê không cần một tác nhân ngoại cảnh quen thuộc mới xuất hiện; nó đã có sẵn trong tâm thế người nhìn.

    Hồ sơ hình ảnh: cành củi khô, những dải bèo, thuyền và nước chia hướng; bờ xa thiếu đò, cầu; phía cao có mây và cánh chim lúc chiều. Cuối mạch nhìn là nỗi nhớ quê dù không cần khói chiều gợi ra.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Con đường mùa đông (A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin, thơ trữ tình); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Một người đang trên hành trình giữa cảnh mùa đông đơn điệu nghe tiếng nhạc ngựa và bài hát của người đánh xe. Cảm giác buồn và mỏi được đan với hình dung gặp người thương bên mái ấm. Hành trình thực tiếp diễn, còn mong đợi giúp nhân vật vượt qua sự lạnh vắng.

    Người đi xe tam mã nghe lục lạc và xà ích hát, bên ngoài không thấy mái lều hay ánh lửa. Anh hình dung ngày mai gặp Nhi-na bên lò sưởi rồi trở lại cảm giác đường đi buồn vắng.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Thời gian (Văn Cao, thơ tự do); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Chủ thể nhìn thời gian qua sự phai tàn của sự vật và kí ức. Đối diện dòng hao mòn ấy, thơ, âm nhạc và tình yêu được cảm nhận như những giá trị có sức bền riêng. Bài thơ ngắn tạo bước ngoặt từ mất mát sang khẳng định, không phải một phép đo vật lí về thời gian.

    Diễn ý hình ảnh: lá khô; kỉ niệm như sỏi rơi trong giếng cạn; sau đó câu thơ, bài hát còn sức sống xanh, còn đôi mắt người yêu như giếng có nước. Hai phần đổi từ hao mòn sang bền sống.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Tôi có một ước mơ (Martin Luther King Jr., diễn văn nghị luận); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Trong diễn văn tại Washington năm 1963, Martin Luther King Jr. yêu cầu chấm dứt phân biệt chủng tộc và thực hiện quyền bình đẳng. Ông đối chiếu lời hứa về quyền con người với sự bất công đang tồn tại. Viễn cảnh một xã hội công bằng gắn với lời thúc giục hành động không bạo lực.

    Các ví dụ bất công liên quan chỗ nghỉ, quyền đi lại, quyền bầu cử và trẻ em bị hạ thấp vì màu da. Viễn cảnh tương lai gồm con cháu nô lệ và chủ nô ngồi cùng nhau, trẻ em được nhìn bằng phẩm cách và những cộng đồng cùng nắm tay; lời kêu gọi giữ kỉ luật bất bạo động.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh, phê bình văn học); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Trong phần tiểu luận thuộc Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh tìm tinh thần Thơ mới bằng cách khảo sát cái chung nổi bật và những bài thơ có giá trị. Ông đặt sự trỗi dậy của ý thức cá nhân bên cạnh truyền thống cộng đồng, đồng thời nhận ra nỗi bơ vơ và nhu cầu tìm chỗ dựa trong tiếng Việt.

    Tiêu chí đọc là so bài hay với bài hay và nhìn xu hướng chung. Người viết lần lượt gợi các hướng sáng tạo của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, rồi bàn việc gửi nỗi niềm riêng vào tiếng Việt và truyền thống.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Tiếp xúc với tác phẩm (Thái Bá Vân, nghị luận về nghệ thuật); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Từ việc tiếp xúc bức tranh Em Thúy của Trần Văn Cẩn, người viết phân biệt sự tồn tại bằng vật liệu với đời sống hình tượng của tác phẩm. Người xem không chỉ kiểm kê màu và khung mà còn tham gia kiến tạo ý nghĩa bằng kinh nghiệm thẩm mĩ. Việc tiếp nhận vẫn phải gắn với hình thức cụ thể của bức tranh.

    Từ Em Thúy, bài tách việc nhận biết vải, sơn, khung, kích thước khỏi việc cảm nhận hình tượng và con mắt Trần Văn Cẩn. Cùng một tranh, người xem ở các thời có thể góp vào đời sống ý nghĩa khác nhau.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Dương phụ hành (Cao Bá Quát, thơ chữ Hán, thể hành); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Trong chuyến đi, chủ thể quan sát một thiếu phụ phương Tây bộc lộ tình cảm tự nhiên với chồng. Cảnh đôi lứa gần gũi làm người quan sát nghĩ về nỗi xa cách của mình. Cái nhìn từ bên ngoài chuyển thành một rung động riêng, thay vì chỉ ghi chép phong tục lạ.

    Cảnh gặp là đêm trên biển. Thiếu phụ tựa vai, kéo áo nói nhỏ với chồng và muốn được chồng đỡ dậy vì lạnh; cuối bài người quan sát nghĩ đến cảnh biệt li của mình.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Thuyền và biển (Xuân Quỳnh, thơ trữ tình); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Câu chuyện tượng trưng về thuyền đi xa và biển gắn bó diễn tả sự khám phá, thấu hiểu, mong nhớ trong tình yêu. Các trạng thái gặp gỡ và cách xa làm nhịp cảm xúc thay đổi. Chuyện thuyền biển dần mở ra lời tự bộc lộ của chủ thể, không phải bài giới thiệu giao thông đường biển.

    Mạch kể qua những lần thuyền đi, biển êm hoặc nổi sóng, những ngày vắng nhau; cuối cùng lời về biển thiếu thuyền chuyển sang em nếu phải xa anh. Đây là diễn ý quan hệ hình tượng, không phải lời nguyên tác.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Nàng Ờm nhắn nhủ (Dân gian dân tộc Mường, truyện thơ dân gian); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Nàng Ờm và chàng Bồng Hương yêu nhau nhưng bị ngăn cản. Lời của nàng hướng về người sống, kể lại đau khổ và mong những đôi lứa khác được hạnh phúc. Tiếng nói sau mất mát biến câu chuyện riêng thành lời nhắn về quyền yêu và sự cảm thông.

    Do bị gia đình ngăn cấm, nàng Ờm và Bồng Hương đã chết; họ thành vợ chồng ở thế giới bên kia, trên núi Làn Ai. Nàng kể đánh cá, cấy hái, dệt may, chúc các mẹ sống lâu và mời lên thăm. Cảnh ấm no sau cái chết là tưởng tượng nghệ thuật phản chiếu khát vọng hạnh phúc; không phải bằng chứng về thế giới bên kia hay lời khuyên tự hại.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng, bi kịch); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Đoạn cuối Vũ Như Tô đặt người nghệ sĩ và Đan Thiềm giữa cuộc nổi loạn. Cửu Trùng Đài là giấc mơ sáng tạo nhưng được xây bằng sự bóc lột đời sống dân chúng. Khi công trình bị phá và nguy hiểm tới gần, Vũ Như Tô vẫn chưa thấu hết sự đối nghịch giữa lí tưởng của mình và thực tế xã hội.

    Đan Thiềm liên tục giục trốn; Vũ Như Tô không muốn rời đài. Tin Lê Tương Dực bị giết, thợ theo quân khởi loạn và quân Ngô Hạch kéo đến dồn dập. Đan Thiềm xin nhận tội để cứu người tài nhưng bị dẫn đi; khi thấy lửa đốt đài, Vũ Như Tô tuyệt vọng rồi chấp nhận bị đưa đến pháp trường.

    Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Prô-mê-tê bị xiềng (Ét-sin (Aeschylus), theo quy thuộc trong sách, bi kịch Hy Lạp); không phải nguyên văn tác phẩm.

    Prô-mê-tê bị trừng phạt vì giúp loài người. Trong cảnh xiềng xích, nhân vật đối mặt quyền lực của Dớt và những sức ép buộc khuất phục. Lời đáp trả cho thấy sự kiên định, đồng thời đặt tri thức và lòng thương con người trong quan hệ xung đột với quyền lực.

    Trong đoạn trích, Nhạc trưởng hỏi nguyên do hình phạt. Prô-mê-tê kể từng giúp Dớt giành quyền bằng mưu trí, rồi phản đối ý định hủy loài người. Dớt đáp lại bằng xiềng xích; không có cuộc giải cứu nhân vật được diễn trong đoạn này.

  2. Câu 1Mức 1Ghép nối

    Ghép khái niệm với nội dung sử dụng trong bài.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  3. Câu 2Mức 2Trắc nghiệm 1 đáp án

    Cách làm nào phù hợp nhất khi xử lí ngữ liệu này?

  4. Câu 3Mức 2Đúng / Sai nhiều ý

    Đánh giá hai cách dùng mô hình học tập.

    ÝĐúngSai
    a)Có thể phân tích mối quan hệ giữa chi tiết đã nêu và mục đích diễn đạt.
    b)Mọi chi tiết giả định trong ngữ liệu đều là kết quả nghiên cứu đã công bố.
  5. Câu 4Mức 2Sắp xếp thứ tự

    Xếp quy trình tạo một sản phẩm có căn cứ: từ xác định nhiệm vụ đến chỉnh sửa.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Tổ chức nhận định và giải thích bằng dữ kiện.
    2. 2Xác định nhiệm vụ và người đọc hoặc người nghe.
    3. 3Đối chiếu tiêu chí để sửa diễn đạt, nguồn và kết luận.
    4. 4Chọn dữ kiện phù hợp, ghi rõ phạm vi nguồn.
  6. Câu 5Mức 3Tự luận

    So sánh cách đặt vấn đề trong Vợ nhặt và Nhớ đồng. Nêu một điểm có thể đặt cạnh nhau và một khác biệt; không chỉ kể hai bản tóm tắt.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 6Mức 3Tự luận

    Chọn Vợ nhặt hoặc Nhớ đồng, nêu một cách hiểu dễ sai và sửa bằng dữ kiện.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 7Mức 3Tự luận

    Viết một đoạn phản hồi 4–6 câu cho người đang học bài này: nêu một phát hiện có căn cứ và một giới hạn cần giữ.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 4Tự luận

    Hoàn thành bảng hệ thống hóa các văn bản trong hồ sơ: ghi định vị thể loại, một dữ kiện và tác dụng của cách tổ chức. Sau bảng, giải thích một nguyên tắc đọc giúp tránh nhầm giữa các thể loại; không chỉ ghi tên thủ pháp.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  10. Câu 9Mức 3Tự luận

    Đối chiếu hai khái niệm đầu: chúng khác nhau thế nào khi áp dụng vào tình huống?

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  11. Câu 10Mức 3Tự luận

    Nêu một kết luận mà ngữ liệu chưa cho phép khẳng định. Giải thích cần bổ sung loại dữ liệu nào.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  12. Câu 11Mức 3Tự luận

    Viết ba câu tự đánh giá sản phẩm: một điểm đạt, một điểm cần sửa, một thao tác sửa cụ thể.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  13. Câu 12Mức 3Tự luận

    Vận dụng tình huống: viết một lời giải thích ngắn cho người chưa biết ba khái niệm; không dùng thuật ngữ để giải thích vòng quanh.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay