Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Vợ nhặt (Kim Lân, truyện ngắn): Giữa nạn đói năm 1945, Tràng đưa một người phụ nữ xa lạ về làm vợ. Bà cụ Tứ bất ngờ, rồi đón nhận con dâu trong thương cảm và lo âu. Buổi sáng sau ngày cưới, căn nhà được thu dọn; bữa ăn nghèo vẫn chứa lời hướng về tương lai. Cuối truyện, trong suy nghĩ của Tràng xuất hiện đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ.
Cuộc kết đôi bắt đầu sau lần gặp có bốn bát bánh đúc. Sáng hôm sau Tràng thấy gắn bó với nhà và có bổn phận lo cho gia đình. Bà cụ Tứ bàn chuyện mua gà; cháo hết, cả nhà phải ăn cám trong im lặng.
Nhớ đồng (Tố Hữu, thơ trữ tình): Từ cảnh tù ngục, chủ thể trữ tình nhớ không gian đồng quê, người lao động và cuộc sống tự do. Mạch hồi tưởng không dừng ở phong cảnh mà gắn với con đường đến lí tưởng cách mạng. Sự trở đi trở lại của nỗi nhớ làm khoảng cách giữa nơi giam hãm và thế giới bên ngoài thêm rõ.
Tiếng hò ngoài nhà giam khơi nhớ đồng, người cày, tay gieo hạt, mẹ và người thân. Các lượt cảm thán về buổi trưa cô quạnh cùng những lượt hỏi tìm trở lại, xen hồi tưởng lúc còn băn khoăn và lúc tìm thấy lí tưởng.
Cầu hiền chiếu (Ngô Thì Nhậm, chiếu): Ngô Thì Nhậm soạn lời chiếu theo chủ trương của vua Quang Trung, kêu gọi người hiền tài ra giúp nước. Văn bản nêu lẽ người tài cần được sử dụng, nhìn lại tình trạng sĩ phu còn dè dặt và trình bày nhu cầu xây dựng đất nước. Lời mời đi kèm những con đường tiến cử, tự tiến cử.
Lời chiếu gợi người hiền như sao sáng hướng về Bắc Thần, đối chiếu việc sĩ phu còn ẩn mình với tình thế cần dựng xây đất nước. Người được mời có thể tự trình bày hoặc được người khác tiến cử theo khả năng.
Lời tiễn dặn (Dân gian dân tộc Thái, truyện thơ dân gian): Đoạn trích Tiễn dặn người yêu kể việc chàng trai tiễn cô gái phải lấy người khác. Chứng kiến đau khổ của người yêu, chàng vừa chăm sóc vừa bày tỏ sự gắn bó. Những sự kiện chia lìa và những lời thề quấn vào nhau, thể hiện khát vọng tự do yêu đương trước sức ép của hoàn cảnh.
Đoạn trích ghép hai tình huống: tiễn nàng về nhà chồng và chăm sóc khi nàng bị nhà chồng đánh đập. Chàng sửa tóc, áo, sắc thuốc; lời gắn bó được nói qua các mùa, tuổi tác và hình dung hóa thành nước, đất, cây cỏ. Phần giới thiệu toàn truyện có cuộc tái hợp về sau, nhưng hai lời tiễn dặn chưa trực tiếp diễn cuộc đoàn tụ ấy.
Sống, hay không sống – đó là vấn đề (William Shakespeare, bi kịch): Trong Hăm-lét, hoàng tử đối diện tội ác ở triều đình và tự vấn về tồn tại, chịu đựng, hành động. Độc thoại làm hiện ra những khả năng trái ngược trong tâm trí. Cuộc đối thoại với Ô-phê-li-a còn diễn ra trong bối cảnh bị theo dõi, nên lời nói không thể tách khỏi nguy cơ và sự hoài nghi.
Clô-đi-út cùng Pô-lô-ni-út dàn cuộc gặp Ô-phê-li-a để nghe lén. Hăm-lét độc thoại về chịu đựng, chống lại bất công và nỗi sợ cái chưa biết sau cái chết; sau đó đối thoại với nàng khi nàng trả kỉ vật. Khán giả biết cảnh bị theo dõi nhưng không nên tự khẳng định nhân vật biết rõ mọi vị trí người nghe lén.
Tình huống vận dụng:
Kịch ngắn nguyên gốc: Người kiến trúc sư muốn giữ một chiếc cầu cũ vì giá trị lịch sử. Người dân báo rằng cầu đã mất an toàn. Anh nhìn bản vẽ và tự hỏi liệu giữ hình dáng có còn nghĩa gì nếu người qua cầu gặp nguy hiểm. Cả hai phía phải quyết định trước mùa mưa.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Chí Phèo (Nam Cao, truyện ngắn); không phải nguyên văn tác phẩm.
Chí Phèo từng là người làm thuê hiền lành. Sau tù đày, Chí trở về làng Vũ Đại trong tình trạng tha hóa và bị Bá Kiến lợi dụng. Sự chăm sóc của thị Nở đánh thức nhu cầu trở lại đời sống lương thiện. Sự cự tuyệt gắn với định kiến làm con đường ấy bế tắc; Chí giết Bá Kiến rồi tự sát.
Truyện mở bằng tiếng chửi không được đáp, rồi mới ngược về quãng đời trước. Thị Nở nấu cháo hành khi Chí ốm; nhận chăm sóc, Chí ngạc nhiên và muốn sống lương thiện. Bà cô ngăn thị Nở, khiến hi vọng chung sống bế tắc. Cuối truyện thị thoáng nghĩ tới lò gạch cũ, không phải câu chuyện xác nhận đã sinh một đứa trẻ.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cải ơi! (Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn); không phải nguyên văn tác phẩm.
Cải, con riêng của vợ ông Năm Nhỏ, bỏ đi sau khi làm mất trâu. Ông Năm rời quê tìm con qua nhiều năm; lời đồn ở quê lại khiến ông mang tiếng làm hại con. Ông tìm cả cơ hội xuất hiện trên truyền hình để gọi tên Cải. Cuộc tìm kiếm cho thấy một tình phụ tử không phụ thuộc huyết thống.
Ở ngã ba Sương, ông sống cùng Quách Phú Thàn và gặp Diễm Thương. Cô giả làm Cải rồi thú nhận là trò đùa; bản thân cô cũng từng bị cha mẹ bỏ rơi. Cuối truyện ông cố tình trộm đôi trâu rồi quay lại giả vờ rao bán cho chính chủ để bị bắt, mong được truyền hình phỏng vấn và gọi con. Hai lời kể nghe đâu về việc phát tin đều giữ nỗi tuyệt vọng vì lời gọi không tới được người cần nghe; không có cảnh đoàn tụ.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Tràng giang (Huy Cận, thơ trữ tình); không phải nguyên văn tác phẩm.
Trước không gian sông nước rộng lớn, chủ thể cảm thấy nhỏ bé và cô đơn. Những vật thể trôi dạt, những bờ bãi xa cách và khoảng trời cao mở nhiều chiều không gian. Nỗi nhớ quê không cần một tác nhân ngoại cảnh quen thuộc mới xuất hiện; nó đã có sẵn trong tâm thế người nhìn.
Hồ sơ hình ảnh: cành củi khô, những dải bèo, thuyền và nước chia hướng; bờ xa thiếu đò, cầu; phía cao có mây và cánh chim lúc chiều. Cuối mạch nhìn là nỗi nhớ quê dù không cần khói chiều gợi ra.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Con đường mùa đông (A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin, thơ trữ tình); không phải nguyên văn tác phẩm.
Một người đang trên hành trình giữa cảnh mùa đông đơn điệu nghe tiếng nhạc ngựa và bài hát của người đánh xe. Cảm giác buồn và mỏi được đan với hình dung gặp người thương bên mái ấm. Hành trình thực tiếp diễn, còn mong đợi giúp nhân vật vượt qua sự lạnh vắng.
Người đi xe tam mã nghe lục lạc và xà ích hát, bên ngoài không thấy mái lều hay ánh lửa. Anh hình dung ngày mai gặp Nhi-na bên lò sưởi rồi trở lại cảm giác đường đi buồn vắng.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Thời gian (Văn Cao, thơ tự do); không phải nguyên văn tác phẩm.
Chủ thể nhìn thời gian qua sự phai tàn của sự vật và kí ức. Đối diện dòng hao mòn ấy, thơ, âm nhạc và tình yêu được cảm nhận như những giá trị có sức bền riêng. Bài thơ ngắn tạo bước ngoặt từ mất mát sang khẳng định, không phải một phép đo vật lí về thời gian.
Diễn ý hình ảnh: lá khô; kỉ niệm như sỏi rơi trong giếng cạn; sau đó câu thơ, bài hát còn sức sống xanh, còn đôi mắt người yêu như giếng có nước. Hai phần đổi từ hao mòn sang bền sống.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Tôi có một ước mơ (Martin Luther King Jr., diễn văn nghị luận); không phải nguyên văn tác phẩm.
Trong diễn văn tại Washington năm 1963, Martin Luther King Jr. yêu cầu chấm dứt phân biệt chủng tộc và thực hiện quyền bình đẳng. Ông đối chiếu lời hứa về quyền con người với sự bất công đang tồn tại. Viễn cảnh một xã hội công bằng gắn với lời thúc giục hành động không bạo lực.
Các ví dụ bất công liên quan chỗ nghỉ, quyền đi lại, quyền bầu cử và trẻ em bị hạ thấp vì màu da. Viễn cảnh tương lai gồm con cháu nô lệ và chủ nô ngồi cùng nhau, trẻ em được nhìn bằng phẩm cách và những cộng đồng cùng nắm tay; lời kêu gọi giữ kỉ luật bất bạo động.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh, phê bình văn học); không phải nguyên văn tác phẩm.
Trong phần tiểu luận thuộc Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh tìm tinh thần Thơ mới bằng cách khảo sát cái chung nổi bật và những bài thơ có giá trị. Ông đặt sự trỗi dậy của ý thức cá nhân bên cạnh truyền thống cộng đồng, đồng thời nhận ra nỗi bơ vơ và nhu cầu tìm chỗ dựa trong tiếng Việt.
Tiêu chí đọc là so bài hay với bài hay và nhìn xu hướng chung. Người viết lần lượt gợi các hướng sáng tạo của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, rồi bàn việc gửi nỗi niềm riêng vào tiếng Việt và truyền thống.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Tiếp xúc với tác phẩm (Thái Bá Vân, nghị luận về nghệ thuật); không phải nguyên văn tác phẩm.
Từ việc tiếp xúc bức tranh Em Thúy của Trần Văn Cẩn, người viết phân biệt sự tồn tại bằng vật liệu với đời sống hình tượng của tác phẩm. Người xem không chỉ kiểm kê màu và khung mà còn tham gia kiến tạo ý nghĩa bằng kinh nghiệm thẩm mĩ. Việc tiếp nhận vẫn phải gắn với hình thức cụ thể của bức tranh.
Từ Em Thúy, bài tách việc nhận biết vải, sơn, khung, kích thước khỏi việc cảm nhận hình tượng và con mắt Trần Văn Cẩn. Cùng một tranh, người xem ở các thời có thể góp vào đời sống ý nghĩa khác nhau.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Dương phụ hành (Cao Bá Quát, thơ chữ Hán, thể hành); không phải nguyên văn tác phẩm.
Trong chuyến đi, chủ thể quan sát một thiếu phụ phương Tây bộc lộ tình cảm tự nhiên với chồng. Cảnh đôi lứa gần gũi làm người quan sát nghĩ về nỗi xa cách của mình. Cái nhìn từ bên ngoài chuyển thành một rung động riêng, thay vì chỉ ghi chép phong tục lạ.
Cảnh gặp là đêm trên biển. Thiếu phụ tựa vai, kéo áo nói nhỏ với chồng và muốn được chồng đỡ dậy vì lạnh; cuối bài người quan sát nghĩ đến cảnh biệt li của mình.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Thuyền và biển (Xuân Quỳnh, thơ trữ tình); không phải nguyên văn tác phẩm.
Câu chuyện tượng trưng về thuyền đi xa và biển gắn bó diễn tả sự khám phá, thấu hiểu, mong nhớ trong tình yêu. Các trạng thái gặp gỡ và cách xa làm nhịp cảm xúc thay đổi. Chuyện thuyền biển dần mở ra lời tự bộc lộ của chủ thể, không phải bài giới thiệu giao thông đường biển.
Mạch kể qua những lần thuyền đi, biển êm hoặc nổi sóng, những ngày vắng nhau; cuối cùng lời về biển thiếu thuyền chuyển sang em nếu phải xa anh. Đây là diễn ý quan hệ hình tượng, không phải lời nguyên tác.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Nàng Ờm nhắn nhủ (Dân gian dân tộc Mường, truyện thơ dân gian); không phải nguyên văn tác phẩm.
Nàng Ờm và chàng Bồng Hương yêu nhau nhưng bị ngăn cản. Lời của nàng hướng về người sống, kể lại đau khổ và mong những đôi lứa khác được hạnh phúc. Tiếng nói sau mất mát biến câu chuyện riêng thành lời nhắn về quyền yêu và sự cảm thông.
Do bị gia đình ngăn cấm, nàng Ờm và Bồng Hương đã chết; họ thành vợ chồng ở thế giới bên kia, trên núi Làn Ai. Nàng kể đánh cá, cấy hái, dệt may, chúc các mẹ sống lâu và mời lên thăm. Cảnh ấm no sau cái chết là tưởng tượng nghệ thuật phản chiếu khát vọng hạnh phúc; không phải bằng chứng về thế giới bên kia hay lời khuyên tự hại.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng, bi kịch); không phải nguyên văn tác phẩm.
Đoạn cuối Vũ Như Tô đặt người nghệ sĩ và Đan Thiềm giữa cuộc nổi loạn. Cửu Trùng Đài là giấc mơ sáng tạo nhưng được xây bằng sự bóc lột đời sống dân chúng. Khi công trình bị phá và nguy hiểm tới gần, Vũ Như Tô vẫn chưa thấu hết sự đối nghịch giữa lí tưởng của mình và thực tế xã hội.
Đan Thiềm liên tục giục trốn; Vũ Như Tô không muốn rời đài. Tin Lê Tương Dực bị giết, thợ theo quân khởi loạn và quân Ngô Hạch kéo đến dồn dập. Đan Thiềm xin nhận tội để cứu người tài nhưng bị dẫn đi; khi thấy lửa đốt đài, Vũ Như Tô tuyệt vọng rồi chấp nhận bị đưa đến pháp trường.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Prô-mê-tê bị xiềng (Ét-sin (Aeschylus), theo quy thuộc trong sách, bi kịch Hy Lạp); không phải nguyên văn tác phẩm.
Prô-mê-tê bị trừng phạt vì giúp loài người. Trong cảnh xiềng xích, nhân vật đối mặt quyền lực của Dớt và những sức ép buộc khuất phục. Lời đáp trả cho thấy sự kiên định, đồng thời đặt tri thức và lòng thương con người trong quan hệ xung đột với quyền lực.
Trong đoạn trích, Nhạc trưởng hỏi nguyên do hình phạt. Prô-mê-tê kể từng giúp Dớt giành quyền bằng mưu trí, rồi phản đối ý định hủy loài người. Dớt đáp lại bằng xiềng xích; không có cuộc giải cứu nhân vật được diễn trong đoạn này.