Ngữ văn 12
Ngữ vănLớp 12Bài 5. Tiếng cười của hài kịch

Ôn tập học kì I

Mục tiêu bài học

  • Vận dụng được tình huống hài, lời thoại như hành động, mỉa mai kịch vào nhiệm vụ cụ thể.
  • Tạo sản phẩm có căn cứ và tự chỉnh sửa theo tiêu chí.

Bài giảng

Công cụ và giới hạn sử dụng

Tình huống hài. Hoàn cảnh có chênh lệch, hiểu nhầm hoặc nghịch lí làm lộ điều đáng phê phán. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Lời thoại như hành động. Lời nói nhằm khoe, dụ, giấu hoặc tác động người khác trên sân khấu. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Mỉa mai kịch. Khoảng cách giữa điều nhân vật tin và điều người xem nhận ra. Cần xác định dấu hiệu tương ứng trong ngữ liệu trước khi đưa ra nhận xét.

Bảng tự kiểm: Với mỗi văn bản, ghi thể loại, dữ kiện trung tâm, dấu hiệu hình thức và một nhận định có thể chứng minh. Khi so sánh, dùng cùng tiêu chí nhưng không ép các thể loại khác nhau vào cùng cách đọc.

Thực hành có hướng dẫn

Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.

Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (Vũ Trọng Phụng, đoạn trích tiểu thuyết trào phúng): Đoạn trích chương cuối Số đỏ bắt đầu ở sân quần vợt Hà Nội đông khán giả và quan chức ba phía. Hai tay vợt Hải, Thụ vắng mặt vì đã bị Xuân lừa đẩy vào nơi tạm giữ; ban tổ chức phải đưa Xuân đấu với quán quân Xiêm. Xuân có lợi thế, khiến vua Xiêm tức giận và giới chức lo sự thắng thua sẽ ảnh hưởng ngoại giao. Qua Văn Minh, họ buộc Xuân nhường đối thủ; Xuân đánh hỏng quả quyết định. Đám đông thất vọng, có người phản đối và đòi giải thích. Văn Minh cùng Xuân trèo lên xe, biến việc chịu thua thành sự hi sinh để tránh chiến tranh. Xuân nói trịch thượng, vừa nói vừa làm bộ; khán giả lại cảm phục và tung hô. Người kể đặt cạnh chiến thuật, lợi ích, diễn thuyết và tâm lí đám đông để vạch sự đảo lộn giá trị. Đây là một cuộc đấu hư cấu, không phải hồ sơ ngoại giao lịch sử.

Cảm hoài (Đặng Dung, thơ chữ Hán luật Đường): Nhân vật trữ tình mở lời giữa việc đời còn kéo dài và tuổi mình đã muộn; cảm giác bất lực được đặt trong không gian trời đất rộng lớn. Tiếp đó, sự đối sánh gặp thời và lỡ vận làm rõ quan hệ giữa khả năng người anh hùng với hoàn cảnh lịch sử: người xuất thân bình thường có thể thành công khi có cơ hội, còn hào kiệt vẫn phải chịu nỗi hận khi thời thế bất lợi. Hai câu sau nâng khát vọng lên tầm lớn: giúp vua xoay chuyển vận nước, chấm dứt binh đao, đem lại yên bình. Khát vọng ấy chưa thực hiện được, tuổi đã bạc và thù nước chưa trả. Tuy nhiên, hình ảnh cuối là người tráng sĩ nhiều lần mài gươm dưới trăng, không phải buông vũ khí. Mạch thơ đi qua ý thức bi kịch để khẳng định ý chí hành động; các biểu tượng cổ điển mang nỗi lo việc nước, không nên giải thành hành vi vật lí có thật.

Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu, nghị luận văn hóa): Trần Đình Hượu mở đầu bằng một giới hạn nghiên cứu: ông chỉ đề xuất nhận xét về những mặt văn hóa đã lắng đọng trước thời cận, hiện đại, không nhận mình đã kết luận mọi đặc sắc dân tộc. Ông nhìn vào thần thoại, tôn giáo, triết học, khoa học và nghệ thuật để nhận định truyền thống không nổi bật ở những hệ thống đồ sộ hay thành tựu chuyên biệt đạt cực điểm. Sau đó, ông gắn thực trạng ấy với nền sản xuất nông nghiệp định cư và điều kiện xã hội. Phần khảo sát lối sống, ước mong, kiểu người được ưa chuộng, quan niệm cái đẹp và cách ứng xử làm rõ thiên hướng coi trọng đời sống thiết thực, tình nghĩa, sự vừa phải và thích ứng. Tác giả vừa nhận ra nền tảng nhân bản, khả năng dung hòa, vừa nêu giới hạn về khát vọng lớn và sự dè dặt trước cái mới. Kết luận nhấn bản sắc hình thành bằng cả vốn sẵn có lẫn việc tiếp nhận, sàng lọc Phật giáo, Nho giáo và các giá trị bên ngoài. Đây là lập luận có bối cảnh lịch sử của người nghiên cứu, không phải bản mô tả bất biến mọi người Việt.

Hải khẩu linh từ – Đền thiêng cửa bể (Đoàn Thị Điểm, truyện truyền kì): Bích Châu, một cung nữ tài trí đời Trần Duệ Tông, được nhà vua yêu quý sau lần đối đáp thơ. Thấy triều chính suy yếu, nàng dâng mười kế sách về an dân, chọn người có năng lực, sửa quân đội và mở đường cho lời can gián; vua khen nhưng không thực hiện. Khi vua quyết đánh Chiêm Thành, lời khuyên thận trọng của nàng lại bị bỏ qua. Đến cửa biển Kỳ Hoa, đoàn thuyền gặp bão, nhà vua mộng thấy một thủy thần đòi cung nữ. Bích Châu nhận hi sinh, để lại lời nhắc chăm lo việc nước; thuyền qua bão nhưng cuộc xuất quân thất bại. Về sau, Lê Thánh Tông đến ngôi đền ven biển, được nàng báo mộng về việc bị Giao đô đốc giam giữ oan khuất. Nhà vua gửi thư cho Quảng Lợi vương đòi xét xử. Thủy phủ nhận lỗi dùng người, phạt Giao đô đốc đi đày, trả lại thi thể Bích Châu để an táng. Sau chiến thắng, nàng lại hiện về cảm tạ và xin sửa câu thơ gây tổn hại danh dự vị vua cũ. Lê Thánh Tông sửa thơ, phong tặng và lập việc thờ phụng.

Nhân vật quan trọng (Nikolai Gogol, đoạn trích hài kịch): Đoạn trích thuộc hồi III của Quan thanh tra. Đám quan chức một thị trấn, sợ bị phát hiện những sai phạm của mình, nhận nhầm Khơ-lét-xta-cốp — một viên chức nhỏ đang hết tiền — là quan thanh tra bí mật. Trong nhà thị trưởng, anh ta được tiếp đãi và tâng bốc, rồi say sưa kể về địa vị tưởng tượng ở thủ đô. Từ chuyện quen quan lớn và nhà văn, anh ta tiến đến nhận vơ tác phẩm, khoe tiệc tùng xa xỉ, quan hệ với giới quyền thế và khả năng điều khiển cả một cơ quan. Lời khoác lác nhiều lần lộ sơ hở: anh nhắc đến thân phận thư kí, nơi ở nghèo và nhận nhầm tác giả sách; khi con gái thị trưởng chỉ ra sai sót, anh lại bịa thêm lời chống chế. Người mẹ vẫn hùa theo, còn các quan chức càng nghe càng run sợ, khiến kẻ nói dối càng phấn khích. Cao trào là lúc anh khoe sắp lên chức rất lớn rồi trượt chân, được cả bọn kính cẩn đỡ. Đoạn trích kết lại bằng việc thị trưởng lắp bắp mời khách nghỉ; sự thật nhỏ bé của nhân vật đối lập với quyền lực mà mọi người tự dựng lên.

Tình huống vận dụng:
Cảnh hài nguyên gốc: Trưởng nhóm giấu bản kế hoạch cũ vì sợ bị hỏi lỗi. Khi khách đến, anh tự khoe đã sửa mọi lỗi và lỡ đọc đúng nội dung bản chưa sửa. Người ghi biên bản hỏi: “Vậy bản mới nằm ở đâu?” Anh mở nhầm chính ngăn tủ vừa khóa.

Phân tích hoàn chỉnh: Mục đích che giấu va vào hành động tự phơi bày. Câu hỏi của người ghi biên bản làm lời khoe bị kiểm tra; tiếng cười nhắm khoảng cách giữa năng lực thật và vẻ hoàn hảo tự dựng.

Bảng ôn tập đã hoàn thành:

Văn bảnDữ kiện và tổ chức nổi bậtNhận định có căn cứ
Xuân Tóc Đỏ cứu quốcViệc Xuân đang có khả năng thắng nhưng bị yêu cầu nhường tạo bước ngoặt nghịch lí: thất bại thể thao trở thành điều kiện cho danh tiếng. Kết quả không phản ánh một chiến công như lời quảng bá.Xuân gọi công chúng bằng giọng bề trên và phô cử chỉ khi diễn thuyết; người kể lại nhắc nguồn nghề nghiệp của tài ăn nói ấy. Hai lớp tiếng nói tạo khoảng cách giữa dáng vẻ vĩ nhân và thủ thuật biểu diễn.
Cảm hoàiTuổi muộn và công việc nước chưa thành đứng đối diện nhau ngay ở đầu. Nỗi buồn vì thời gian hữu hạn không làm lí tưởng thu nhỏ mà làm tình thế thêm gay gắt.Hình dung xoay trục đất và kéo nước sông trời để rửa binh khí gợi tầm vóc khát vọng giúp đời, kết thúc chiến tranh. Đây là biểu tượng ước vọng, không phải lời khoe quyền năng.
Hải khẩu linh từ – Đền thiêng cửa bểMười kế sách cụ thể cho thấy Bích Châu có tư duy chính trị chứ không chỉ là người đẹp trong cung. Sự đối lập giữa lời khen của vua và việc không thi hành làm nổi bật bi kịch của tiếng nói đúng không được lắng nghe.Bức thư của Lê Thánh Tông khiến thủy phủ phải xét tội người dưới quyền; công lí gắn với trách nhiệm chọn người, nghe lời thật và sửa sai. Việc Giao đô đốc bị đày, không phải bị xử tử, cần được kể đúng.
Nhân vật quan trọngTình huống nhận nhầm xuất phát từ nỗi sợ có thật của đám quan chức, nên lời nói vô lí vẫn được tin. Tiếng cười phê phán cả kẻ khoác lác lẫn môi trường xu nịnh nuôi dưỡng hắn.Các lời khoe phóng đại nối tiếp và những lần lộ sơ hở cho thấy Khơ-lét-xta-cốp vừa thiếu hiểu biết vừa tự mê hoặc. Lời của cô con gái vạch tên tác giả đúng tạo một phép thử mà người mẹ cố tình gạt đi.

Tôi dùng cùng hai cột dữ kiện – cách tạo nghĩa để đối chiếu, không đánh đồng thể loại hoặc lấy lời tóm lược làm câu trích nguyên tác.

Hệ thống hóa kiến thức đã học; Luyện tập và vận dụng

Xuân Tóc Đỏ cứu quốc: đoạn trích tiểu thuyết trào phúng. Tiếng cười không chỉ nhắm một cá nhân mà còn vạch cách cả xã hội tạo ra người hùng giả. Dấu hiệu phân tích: Tình huống đảo giá trị biến thua thành công; ngôn ngữ khoa trương và lời mỉa tạo khoảng cách giữa danh xưng và thực chất; đám đông tham gia làm lộ diện một cơ chế xã hội.

Cảm hoài: thơ chữ Hán luật Đường. Ý thức bi kịch không đồng nghĩa đầu hàng trước hoàn cảnh. Dấu hiệu phân tích: Tương phản tuổi muộn và chí lớn tạo xung lực cảm xúc; hình ảnh mang tầm vóc rộng nâng cao khí phách; luật thơ chặt chứa mạch suy tư về thời thế và hành động.

Nhìn về vốn văn hóa dân tộc: nghị luận văn hóa. Hiểu bản sắc cần cái nhìn vừa trân trọng vừa tự phản tỉnh. Dấu hiệu phân tích: Khái quát được xây từ nhiều phương diện đời sống; các cặp mặt mạnh và giới hạn giúp tránh tán dương một chiều; bối cảnh lịch sử làm căn cứ cho nhận xét văn hóa.

Hải khẩu linh từ – Đền thiêng cửa bể: truyện truyền kì. Chất kì ảo có thể làm nổi bật khát vọng công bằng và sự trân trọng trí tuệ con người. Dấu hiệu phân tích: Tuyến thời gian nhiều triều đại mở khả năng đánh giá lại quá khứ; yếu tố thần linh làm tiếng nói công lí vượt giới hạn đời thường; tài trí người phụ nữ được đặt trong quan hệ với việc nước.

Nhân vật quan trọng: đoạn trích hài kịch. Hài kịch có thể phơi bày một cơ chế quyền lực qua chuyện nhận nhầm cá nhân. Dấu hiệu phân tích: Hiểu lầm là động cơ tình huống kịch; khoảng cách lời khoe và thực chất tạo tiếng cười; phản ứng của các nhân vật khác mở rộng đối tượng phê phán.

Khái niệm chính

Tình huống hài
Hoàn cảnh có chênh lệch, hiểu nhầm hoặc nghịch lí làm lộ điều đáng phê phán.
Lời thoại như hành động
Lời nói nhằm khoe, dụ, giấu hoặc tác động người khác trên sân khấu.
Mỉa mai kịch
Khoảng cách giữa điều nhân vật tin và điều người xem nhận ra.

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Xử lí trọn vẹn tình huống đã cho.

    Xem lời giải

    Mục đích che giấu va vào hành động tự phơi bày. Câu hỏi của người ghi biên bản làm lời khoe bị kiểm tra; tiếng cười nhắm khoảng cách giữa năng lực thật và vẻ hoàn hảo tự dựng.

Ghi nhớ

Tình huống hài → Lời thoại như hành động → Mỉa mai kịch: vận dụng vào dữ kiện, giải thích tác dụng và tự kiểm tra giới hạn kết luận.

Dễ nhầm

  • Không coi ví dụ giả định là dữ kiện thực tế; không chép định nghĩa thay cho thao tác.

Bài tập

Đã đúng 0/4 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.

    Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (Vũ Trọng Phụng, đoạn trích tiểu thuyết trào phúng): Đoạn trích chương cuối Số đỏ bắt đầu ở sân quần vợt Hà Nội đông khán giả và quan chức ba phía. Hai tay vợt Hải, Thụ vắng mặt vì đã bị Xuân lừa đẩy vào nơi tạm giữ; ban tổ chức phải đưa Xuân đấu với quán quân Xiêm. Xuân có lợi thế, khiến vua Xiêm tức giận và giới chức lo sự thắng thua sẽ ảnh hưởng ngoại giao. Qua Văn Minh, họ buộc Xuân nhường đối thủ; Xuân đánh hỏng quả quyết định. Đám đông thất vọng, có người phản đối và đòi giải thích. Văn Minh cùng Xuân trèo lên xe, biến việc chịu thua thành sự hi sinh để tránh chiến tranh. Xuân nói trịch thượng, vừa nói vừa làm bộ; khán giả lại cảm phục và tung hô. Người kể đặt cạnh chiến thuật, lợi ích, diễn thuyết và tâm lí đám đông để vạch sự đảo lộn giá trị. Đây là một cuộc đấu hư cấu, không phải hồ sơ ngoại giao lịch sử.

    Cảm hoài (Đặng Dung, thơ chữ Hán luật Đường): Nhân vật trữ tình mở lời giữa việc đời còn kéo dài và tuổi mình đã muộn; cảm giác bất lực được đặt trong không gian trời đất rộng lớn. Tiếp đó, sự đối sánh gặp thời và lỡ vận làm rõ quan hệ giữa khả năng người anh hùng với hoàn cảnh lịch sử: người xuất thân bình thường có thể thành công khi có cơ hội, còn hào kiệt vẫn phải chịu nỗi hận khi thời thế bất lợi. Hai câu sau nâng khát vọng lên tầm lớn: giúp vua xoay chuyển vận nước, chấm dứt binh đao, đem lại yên bình. Khát vọng ấy chưa thực hiện được, tuổi đã bạc và thù nước chưa trả. Tuy nhiên, hình ảnh cuối là người tráng sĩ nhiều lần mài gươm dưới trăng, không phải buông vũ khí. Mạch thơ đi qua ý thức bi kịch để khẳng định ý chí hành động; các biểu tượng cổ điển mang nỗi lo việc nước, không nên giải thành hành vi vật lí có thật.

    Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu, nghị luận văn hóa): Trần Đình Hượu mở đầu bằng một giới hạn nghiên cứu: ông chỉ đề xuất nhận xét về những mặt văn hóa đã lắng đọng trước thời cận, hiện đại, không nhận mình đã kết luận mọi đặc sắc dân tộc. Ông nhìn vào thần thoại, tôn giáo, triết học, khoa học và nghệ thuật để nhận định truyền thống không nổi bật ở những hệ thống đồ sộ hay thành tựu chuyên biệt đạt cực điểm. Sau đó, ông gắn thực trạng ấy với nền sản xuất nông nghiệp định cư và điều kiện xã hội. Phần khảo sát lối sống, ước mong, kiểu người được ưa chuộng, quan niệm cái đẹp và cách ứng xử làm rõ thiên hướng coi trọng đời sống thiết thực, tình nghĩa, sự vừa phải và thích ứng. Tác giả vừa nhận ra nền tảng nhân bản, khả năng dung hòa, vừa nêu giới hạn về khát vọng lớn và sự dè dặt trước cái mới. Kết luận nhấn bản sắc hình thành bằng cả vốn sẵn có lẫn việc tiếp nhận, sàng lọc Phật giáo, Nho giáo và các giá trị bên ngoài. Đây là lập luận có bối cảnh lịch sử của người nghiên cứu, không phải bản mô tả bất biến mọi người Việt.

    Hải khẩu linh từ – Đền thiêng cửa bể (Đoàn Thị Điểm, truyện truyền kì): Bích Châu, một cung nữ tài trí đời Trần Duệ Tông, được nhà vua yêu quý sau lần đối đáp thơ. Thấy triều chính suy yếu, nàng dâng mười kế sách về an dân, chọn người có năng lực, sửa quân đội và mở đường cho lời can gián; vua khen nhưng không thực hiện. Khi vua quyết đánh Chiêm Thành, lời khuyên thận trọng của nàng lại bị bỏ qua. Đến cửa biển Kỳ Hoa, đoàn thuyền gặp bão, nhà vua mộng thấy một thủy thần đòi cung nữ. Bích Châu nhận hi sinh, để lại lời nhắc chăm lo việc nước; thuyền qua bão nhưng cuộc xuất quân thất bại. Về sau, Lê Thánh Tông đến ngôi đền ven biển, được nàng báo mộng về việc bị Giao đô đốc giam giữ oan khuất. Nhà vua gửi thư cho Quảng Lợi vương đòi xét xử. Thủy phủ nhận lỗi dùng người, phạt Giao đô đốc đi đày, trả lại thi thể Bích Châu để an táng. Sau chiến thắng, nàng lại hiện về cảm tạ và xin sửa câu thơ gây tổn hại danh dự vị vua cũ. Lê Thánh Tông sửa thơ, phong tặng và lập việc thờ phụng.

    Nhân vật quan trọng (Nikolai Gogol, đoạn trích hài kịch): Đoạn trích thuộc hồi III của Quan thanh tra. Đám quan chức một thị trấn, sợ bị phát hiện những sai phạm của mình, nhận nhầm Khơ-lét-xta-cốp — một viên chức nhỏ đang hết tiền — là quan thanh tra bí mật. Trong nhà thị trưởng, anh ta được tiếp đãi và tâng bốc, rồi say sưa kể về địa vị tưởng tượng ở thủ đô. Từ chuyện quen quan lớn và nhà văn, anh ta tiến đến nhận vơ tác phẩm, khoe tiệc tùng xa xỉ, quan hệ với giới quyền thế và khả năng điều khiển cả một cơ quan. Lời khoác lác nhiều lần lộ sơ hở: anh nhắc đến thân phận thư kí, nơi ở nghèo và nhận nhầm tác giả sách; khi con gái thị trưởng chỉ ra sai sót, anh lại bịa thêm lời chống chế. Người mẹ vẫn hùa theo, còn các quan chức càng nghe càng run sợ, khiến kẻ nói dối càng phấn khích. Cao trào là lúc anh khoe sắp lên chức rất lớn rồi trượt chân, được cả bọn kính cẩn đỡ. Đoạn trích kết lại bằng việc thị trưởng lắp bắp mời khách nghỉ; sự thật nhỏ bé của nhân vật đối lập với quyền lực mà mọi người tự dựng lên.

    Tình huống vận dụng:
    Cảnh hài nguyên gốc: Trưởng nhóm giấu bản kế hoạch cũ vì sợ bị hỏi lỗi. Khi khách đến, anh tự khoe đã sửa mọi lỗi và lỡ đọc đúng nội dung bản chưa sửa. Người ghi biên bản hỏi: “Vậy bản mới nằm ở đâu?” Anh mở nhầm chính ngăn tủ vừa khóa.

  2. Câu 1Mức 1Ghép nối

    Ghép khái niệm với nội dung sử dụng trong bài.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  3. Câu 2Mức 2Trắc nghiệm 1 đáp án

    Cách làm nào phù hợp nhất khi xử lí ngữ liệu này?

  4. Câu 3Mức 2Đúng / Sai nhiều ý

    Đánh giá hai cách dùng mô hình học tập.

    ÝĐúngSai
    a)Có thể phân tích mối quan hệ giữa chi tiết đã nêu và mục đích diễn đạt.
    b)Mọi chi tiết giả định trong ngữ liệu đều là kết quả nghiên cứu đã công bố.
  5. Câu 4Mức 2Sắp xếp thứ tự

    Xếp quy trình tạo một sản phẩm có căn cứ: từ xác định nhiệm vụ đến chỉnh sửa.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Chọn dữ kiện phù hợp, ghi rõ phạm vi nguồn.
    2. 2Tổ chức nhận định và giải thích bằng dữ kiện.
    3. 3Xác định nhiệm vụ và người đọc hoặc người nghe.
    4. 4Đối chiếu tiêu chí để sửa diễn đạt, nguồn và kết luận.
  6. Câu 5Mức 3Tự luận

    So sánh cách đặt vấn đề trong Xuân Tóc Đỏ cứu quốc và Cảm hoài. Nêu một điểm có thể đặt cạnh nhau và một khác biệt; không chỉ kể hai bản tóm tắt.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 6Mức 3Tự luận

    Chọn Xuân Tóc Đỏ cứu quốc hoặc Cảm hoài, nêu một cách hiểu dễ sai và sửa bằng dữ kiện.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 7Mức 3Tự luận

    Viết một đoạn phản hồi 4–6 câu cho người đang học bài này: nêu một phát hiện có căn cứ và một giới hạn cần giữ.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 4Tự luận

    Lập bảng tổng hợp 4 văn bản đã cung cấp, gồm tên, dữ kiện gắn hình thức và nhận định được dữ kiện nâng đỡ; giải thích một lựa chọn tổ chức bảng.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  10. Câu 9Mức 3Tự luận

    Đối chiếu hai khái niệm đầu: chúng khác nhau thế nào khi áp dụng vào tình huống?

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  11. Câu 10Mức 3Tự luận

    Nêu một kết luận mà ngữ liệu chưa cho phép khẳng định. Giải thích cần bổ sung loại dữ liệu nào.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  12. Câu 11Mức 3Tự luận

    Viết ba câu tự đánh giá sản phẩm: một điểm đạt, một điểm cần sửa, một thao tác sửa cụ thể.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  13. Câu 12Mức 3Tự luận

    Vận dụng tình huống: viết một lời giải thích ngắn cho người chưa biết ba khái niệm; không dùng thuật ngữ để giải thích vòng quanh.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay