Ngữ văn 10 – Hai tập
Ngữ vănLớp 10Phần 8. Bài 6. Nguyễn Trãi – “Dành còn để trợ dân này”

Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội

Mục tiêu bài học

  • Nhận biết và phân tích yếu tố nội dung, nghệ thuật hoặc lập luận của Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội.
  • Đánh giá có căn cứ, giữ giới hạn của bản tóm giải và tôn trọng quyền tác giả.

Bài giảng

Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập

Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.

Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội hướng tới người đọc cụ thể, cần một ý trung tâm và căn cứ phù hợp. Với kiểu nghị luận xã hội, người viết phải xác định vấn đề trước khi lựa thông tin. Đọc bản mẫu dưới đây để nhận ra phân biệt đơn giản với thiếu thốn, trách nhiệm với cộng đồng và bước thay đổi vừa hoàn cảnh; không lấy tên thể loại thay cho việc thực hiện. Phân biệt bài viết phân tích với kể lại, bài báo cáo với bài cảm nghĩ, nội quy với lời khuyên cá nhân. Mọi dữ liệu, nguồn và lời dẫn cần kiểm tra. Mô hình là bản viết hoàn chỉnh nguyên gốc, không phải văn của tác giả đang được học; chuyện hư cấu và tổ chức giả định được ghi rõ, không dùng làm chứng cứ thực tế.

Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.

Phân tích và đánh giá

Quy trình: làm rõ đề và người đọc; tìm ý gắn phân biệt đơn giản với thiếu thốn; chọn căn cứ có xuất xứ; lập trật tự để làm rõ trách nhiệm với cộng đồng; viết bản đầu và kiểm tra bước thay đổi vừa hoàn cảnh. Khi sửa, đánh dấu từng kết luận và tìm chi tiết nâng đỡ nó. Bài nghị luận cần quan hệ giải thích, không chỉ nêu ý đúng; báo cáo cần câu hỏi, phương pháp, kết quả, giới hạn và tài liệu; văn bản điều hành cần phạm vi, yêu cầu hoặc bước rõ, không tự tạo thẩm quyền. Phần mở định hướng, phần triển khai chứng minh, phần cuối khái quát và nêu phạm vi. Không để mẫu thay tiếng nói riêng, cũng không dựng số liệu để bài có vẻ khoa học.

Mô hình hoàn chỉnh và lời giải mẫu

Sống đơn giản không phải bỏ trách nhiệm

Giữa nhiều lời mời mua sắm và nhiều việc cạnh tranh sự chú ý, sống đơn giản là một lựa chọn đáng cân nhắc. Theo tôi, giá trị của lựa chọn ấy không nằm ở việc có ít đồ hơn người khác, mà ở khả năng nhận ra điều thực sự cần và dành nguồn lực cho nó. Một cuộc sống bớt rối chỉ có ý nghĩa nếu vẫn giữ trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng.

Trước hết, cần phân biệt nhu cầu với mong muốn phát sinh vì so sánh. Một chiếc cặp còn dùng tốt không tự trở nên vô ích vì có mẫu mới. Khi dừng lại hỏi mình cần chức năng nào, ta có thể giảm những quyết định vội. Tương tự, lịch học không phải càng kín càng chứng minh chăm chỉ; chọn mục tiêu phù hợp giúp có thời gian làm đến nơi. Những ví dụ này là tình huống để suy nghĩ, không phải khảo sát về mức tiêu dùng của mọi học sinh.

Sự đơn giản cũng có mặt tinh thần. Chẳng hạn, một nhóm làm báo tường thống nhất một cách lưu bản thảo, đặt tên tệp rõ và chia việc vừa khả năng có thể bớt nhầm lẫn. Việc bỏ thủ tục thừa khác với bỏ kiểm tra. Nếu nhân danh gọn nhẹ để không ghi nguồn ảnh hoặc không bàn giao dụng cụ, nhóm đã chuyển gánh nặng sang người khác. Vì vậy, thước đo không chỉ là việc của mình ít hơn mà là công việc chung có tốt hơn không.

Có ý kiến cho rằng sống đơn giản có thể thành lời khuyên xa rời hoàn cảnh người còn thiếu thốn. Phản biện ấy cần được coi trọng. Không nên lãng mạn hoá nghèo khó hoặc yêu cầu một gia đình bỏ vật dụng thiết yếu. Cũng không thể dùng lựa chọn cá nhân để phán xét người phải làm nhiều việc. Điều có thể đề nghị là mỗi người, trong điều kiện thực tế, thử bỏ một việc hoặc món mua không cần, rồi xem nguồn lực tiết kiệm được giúp điều gì.

Tôi muốn bắt đầu từ một tuần sắp lại góc học: giữ tài liệu đang dùng, phân loại phần cần lưu, chuyển sách còn tốt qua kênh chia sẻ phù hợp và không vứt giấy có thông tin riêng tư bừa bãi. Đó là bước nhỏ có thể nhìn lại, không phải công thức hạnh phúc chung.

Sống đơn giản, như vậy, là lựa chọn có suy xét chứ không là cuộc đua ít đồ hay rút lui khỏi mọi cam kết. Khi sự gọn nhẹ giúp ta sống tử tế và chủ động hơn, nó mới có giá trị bền.

Khái niệm chính

Mục tiêu
nghị luận xã hội có căn cứ, phù hợp người đọc
Trọng tâm nội dung
phân biệt đơn giản với thiếu thốn và trách nhiệm với cộng đồng
Kiểm tra chất lượng
bước thay đổi vừa hoàn cảnh

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Thực hiện một bản viết hoàn chỉnh theo tình huống và đề tài của mô hình; không dùng trải nghiệm hư cấu làm của mình. Có thể chọn cách lập luận khác nếu giữ căn cứ, giới hạn và đúng thể loại.

    Xem lời giải

    Sống đơn giản không phải bỏ trách nhiệm

    Giữa nhiều lời mời mua sắm và nhiều việc cạnh tranh sự chú ý, sống đơn giản là một lựa chọn đáng cân nhắc. Theo tôi, giá trị của lựa chọn ấy không nằm ở việc có ít đồ hơn người khác, mà ở khả năng nhận ra điều thực sự cần và dành nguồn lực cho nó. Một cuộc sống bớt rối chỉ có ý nghĩa nếu vẫn giữ trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng.

    Trước hết, cần phân biệt nhu cầu với mong muốn phát sinh vì so sánh. Một chiếc cặp còn dùng tốt không tự trở nên vô ích vì có mẫu mới. Khi dừng lại hỏi mình cần chức năng nào, ta có thể giảm những quyết định vội. Tương tự, lịch học không phải càng kín càng chứng minh chăm chỉ; chọn mục tiêu phù hợp giúp có thời gian làm đến nơi. Những ví dụ này là tình huống để suy nghĩ, không phải khảo sát về mức tiêu dùng của mọi học sinh.

    Sự đơn giản cũng có mặt tinh thần. Chẳng hạn, một nhóm làm báo tường thống nhất một cách lưu bản thảo, đặt tên tệp rõ và chia việc vừa khả năng có thể bớt nhầm lẫn. Việc bỏ thủ tục thừa khác với bỏ kiểm tra. Nếu nhân danh gọn nhẹ để không ghi nguồn ảnh hoặc không bàn giao dụng cụ, nhóm đã chuyển gánh nặng sang người khác. Vì vậy, thước đo không chỉ là việc của mình ít hơn mà là công việc chung có tốt hơn không.

    Có ý kiến cho rằng sống đơn giản có thể thành lời khuyên xa rời hoàn cảnh người còn thiếu thốn. Phản biện ấy cần được coi trọng. Không nên lãng mạn hoá nghèo khó hoặc yêu cầu một gia đình bỏ vật dụng thiết yếu. Cũng không thể dùng lựa chọn cá nhân để phán xét người phải làm nhiều việc. Điều có thể đề nghị là mỗi người, trong điều kiện thực tế, thử bỏ một việc hoặc món mua không cần, rồi xem nguồn lực tiết kiệm được giúp điều gì.

    Tôi muốn bắt đầu từ một tuần sắp lại góc học: giữ tài liệu đang dùng, phân loại phần cần lưu, chuyển sách còn tốt qua kênh chia sẻ phù hợp và không vứt giấy có thông tin riêng tư bừa bãi. Đó là bước nhỏ có thể nhìn lại, không phải công thức hạnh phúc chung.

    Sống đơn giản, như vậy, là lựa chọn có suy xét chứ không là cuộc đua ít đồ hay rút lui khỏi mọi cam kết. Khi sự gọn nhẹ giúp ta sống tử tế và chủ động hơn, nó mới có giá trị bền.

Ghi nhớ

Mục tiêu: nghị luận xã hội có căn cứ, phù hợp người đọc; Trọng tâm nội dung: phân biệt đơn giản với thiếu thốn và trách nhiệm với cộng đồng; Kiểm tra chất lượng: bước thay đổi vừa hoàn cảnh.

Bài tập

Đã đúng 0/4 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập

    Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.

    Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội hướng tới người đọc cụ thể, cần một ý trung tâm và căn cứ phù hợp. Với kiểu nghị luận xã hội, người viết phải xác định vấn đề trước khi lựa thông tin. Đọc bản mẫu dưới đây để nhận ra phân biệt đơn giản với thiếu thốn, trách nhiệm với cộng đồng và bước thay đổi vừa hoàn cảnh; không lấy tên thể loại thay cho việc thực hiện. Phân biệt bài viết phân tích với kể lại, bài báo cáo với bài cảm nghĩ, nội quy với lời khuyên cá nhân. Mọi dữ liệu, nguồn và lời dẫn cần kiểm tra. Mô hình là bản viết hoàn chỉnh nguyên gốc, không phải văn của tác giả đang được học; chuyện hư cấu và tổ chức giả định được ghi rõ, không dùng làm chứng cứ thực tế.

    Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.

    Phân tích và đánh giá

    Quy trình: làm rõ đề và người đọc; tìm ý gắn phân biệt đơn giản với thiếu thốn; chọn căn cứ có xuất xứ; lập trật tự để làm rõ trách nhiệm với cộng đồng; viết bản đầu và kiểm tra bước thay đổi vừa hoàn cảnh. Khi sửa, đánh dấu từng kết luận và tìm chi tiết nâng đỡ nó. Bài nghị luận cần quan hệ giải thích, không chỉ nêu ý đúng; báo cáo cần câu hỏi, phương pháp, kết quả, giới hạn và tài liệu; văn bản điều hành cần phạm vi, yêu cầu hoặc bước rõ, không tự tạo thẩm quyền. Phần mở định hướng, phần triển khai chứng minh, phần cuối khái quát và nêu phạm vi. Không để mẫu thay tiếng nói riêng, cũng không dựng số liệu để bài có vẻ khoa học.

    Mô hình hoàn chỉnh và lời giải mẫu

    Sống đơn giản không phải bỏ trách nhiệm

    Giữa nhiều lời mời mua sắm và nhiều việc cạnh tranh sự chú ý, sống đơn giản là một lựa chọn đáng cân nhắc. Theo tôi, giá trị của lựa chọn ấy không nằm ở việc có ít đồ hơn người khác, mà ở khả năng nhận ra điều thực sự cần và dành nguồn lực cho nó. Một cuộc sống bớt rối chỉ có ý nghĩa nếu vẫn giữ trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng.

    Trước hết, cần phân biệt nhu cầu với mong muốn phát sinh vì so sánh. Một chiếc cặp còn dùng tốt không tự trở nên vô ích vì có mẫu mới. Khi dừng lại hỏi mình cần chức năng nào, ta có thể giảm những quyết định vội. Tương tự, lịch học không phải càng kín càng chứng minh chăm chỉ; chọn mục tiêu phù hợp giúp có thời gian làm đến nơi. Những ví dụ này là tình huống để suy nghĩ, không phải khảo sát về mức tiêu dùng của mọi học sinh.

    Sự đơn giản cũng có mặt tinh thần. Chẳng hạn, một nhóm làm báo tường thống nhất một cách lưu bản thảo, đặt tên tệp rõ và chia việc vừa khả năng có thể bớt nhầm lẫn. Việc bỏ thủ tục thừa khác với bỏ kiểm tra. Nếu nhân danh gọn nhẹ để không ghi nguồn ảnh hoặc không bàn giao dụng cụ, nhóm đã chuyển gánh nặng sang người khác. Vì vậy, thước đo không chỉ là việc của mình ít hơn mà là công việc chung có tốt hơn không.

    Có ý kiến cho rằng sống đơn giản có thể thành lời khuyên xa rời hoàn cảnh người còn thiếu thốn. Phản biện ấy cần được coi trọng. Không nên lãng mạn hoá nghèo khó hoặc yêu cầu một gia đình bỏ vật dụng thiết yếu. Cũng không thể dùng lựa chọn cá nhân để phán xét người phải làm nhiều việc. Điều có thể đề nghị là mỗi người, trong điều kiện thực tế, thử bỏ một việc hoặc món mua không cần, rồi xem nguồn lực tiết kiệm được giúp điều gì.

    Tôi muốn bắt đầu từ một tuần sắp lại góc học: giữ tài liệu đang dùng, phân loại phần cần lưu, chuyển sách còn tốt qua kênh chia sẻ phù hợp và không vứt giấy có thông tin riêng tư bừa bãi. Đó là bước nhỏ có thể nhìn lại, không phải công thức hạnh phúc chung.

    Sống đơn giản, như vậy, là lựa chọn có suy xét chứ không là cuộc đua ít đồ hay rút lui khỏi mọi cam kết. Khi sự gọn nhẹ giúp ta sống tử tế và chủ động hơn, nó mới có giá trị bền.

  2. Câu 1Mức 1Trắc nghiệm 1 đáp án

    Cách thực hiện nào phù hợp mục đích của hoạt động này?

  3. Câu 2Mức 2Ghép nối

    Ghép các yếu tố với vai trò/đặc điểm được trình bày trong bản tóm giải.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  4. Câu 3Mức 2Đúng / Sai nhiều ý

    Đọc các nhận định về văn bản và cách sử dụng nguồn.

    ÝĐúngSai
    a)Trong hồ sơ này, Mục tiêu được gắn với nghị luận xã hội có căn cứ, phù hợp người đọc.
    b)Trong hồ sơ này, Trọng tâm nội dung được gắn với bước thay đổi vừa hoàn cảnh.
    c)Các lời tóm giải ở đây là nguyên văn toàn bộ tác phẩm hoặc bản dịch trong sách.
    d)Khi đánh giá cần phân biệt điều ngữ liệu cung cấp với suy diễn ngoài căn cứ.
  5. Câu 4Mức 2Sắp xếp thứ tự

    Sắp xếp quy trình thực hiện theo quan hệ điều kiện trước – sau.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Tổ chức và thực hiện bản đầu theo mục đích.
    2. 2Xác định mục đích, đối tượng và yêu cầu.
    3. 3Kiểm tra tư liệu, chọn căn cứ có thể sử dụng.
    4. 4Đối chiếu yêu cầu, nhận phản hồi và chỉnh sửa.
  6. Câu 5Mức 3Tự luận

    Thực hiện một bản viết hoàn chỉnh theo tình huống và đề tài của mô hình; không dùng trải nghiệm hư cấu làm của mình. Có thể chọn cách lập luận khác nếu giữ căn cứ, giới hạn và đúng thể loại.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 6Mức 2Tự luận

    Lập kế hoạch thực hiện chính hoạt động trong hồ sơ: ghi mục đích, hai trọng tâm có tên cụ thể, nguồn/căn cứ và cách kiểm tra. Không chỉ chép tên ba phần mở–thân–kết.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 7Mức 2Tự luận

    Sửa nhận xét “Mô hình này chứng minh mọi người đều phải làm đúng như vậy”; thay bằng nhận xét đúng phạm vi và chỉ hai điều riêng của hoạt động vẫn phải giữ.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 2Tự luận

    Viết phản hồi có ba phần cho mô hình: một điểm đạt gắn chi tiết, một điều cần kiểm tra, một cách chỉnh hoặc thử lại.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay