Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập
Tri thức ngữ văn – Học liệu diễn giải nguyên gốc theo các mục trong sách.
Văn học trung đại Việt Nam từ khoảng thế kỉ X đến hết XIX có bộ phận chữ Hán, chữ Nôm, gắn lịch sử đất nước và tiếp thu, biến đổi khuôn mẫu. Tính quy phạm thể hiện thể loại, thi liệu, cách tổ chức, nhưng tác giả có thể sáng tạo, Việt hoá, bộc lộ cá tính. Không coi quy phạm đồng nghĩa mọi tác phẩm như nhau hoặc chữ Hán đồng nghĩa không thuộc văn học Việt Nam.
Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.
Phân tích và đánh giá
Các thể cáo, hịch, chiếu, biểu, thư có mục đích, tư thế và hoàn cảnh riêng. Lí lẽ, chứng cứ kết hợp cảm xúc, nhịp, hình ảnh tạo sức chính luận. Khi đọc Nguyễn Trãi, bối cảnh, nhân nghĩa, ý thức độc lập, tiếng nói cá nhân và nghệ thuật ngôn từ cùng quan trọng. Biểu cảm không chỉ một từ cảm thán mà có thể nằm trong chuỗi hình ảnh, nhịp và chuyển giọng.
Cách đọc, kết nối và giới hạn
Ví dụ tự viết: “Một sân trường không rác không chỉ sạch mắt; nó giữ nơi vui chơi an toàn cho những người nhỏ nhất.” Lí lẽ gắn an toàn, hình ảnh tạo cảm xúc nhưng muốn khẳng định mức nguy hại cần nguồn chuyên môn. Đây là mẫu phân tích nguyên tắc, không giả văn trung đại.
Ví dụ tự viết và lời giải vận dụng
Vận dụng tri thức vào ví dụ tự viết trong hồ sơ: nêu hai chi tiết và giải thích, không thêm điều chưa có.
Trong câu tự viết về sân trường không rác, “an toàn” là lí lẽ nối việc giữ vệ sinh với lợi ích người sử dụng. Hình dung những người nhỏ tuổi nhất vui chơi tạo yếu tố biểu cảm, khiến điều cần bảo vệ hiện cụ thể chứ không chỉ là mệnh lệnh dọn sạch. Hai yếu tố hỗ trợ nhau nhưng câu chưa đo mức giảm tai nạn hoặc bệnh. Vì thế không thêm một tỉ lệ khoa học tự nghĩ; muốn khẳng định mức tác động phải có nghiên cứu phù hợp. Đây là ví dụ mới về lí lẽ và biểu cảm, không phải văn của Nguyễn Trãi.