Ngữ văn 10 – Hai tập
Ngữ vănLớp 10Phần 3. Bài 3. Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận

Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm

Mục tiêu bài học

  • Nhận biết và phân tích yếu tố nội dung, nghệ thuật hoặc lập luận của Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm.
  • Đánh giá có căn cứ, giữ giới hạn của bản tóm giải và tôn trọng quyền tác giả.

Bài giảng

Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập

Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.

Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm hướng tới người đọc cụ thể, cần một ý trung tâm và căn cứ phù hợp. Với kiểu thuyết phục thay thói quen, người viết phải xác định vấn đề trước khi lựa thông tin. Đọc bản mẫu dưới đây để nhận ra ngắt quãng vì thông báo, thừa nhận nhu cầu liên lạc và đề nghị thử và tự nhìn lại; không lấy tên thể loại thay cho việc thực hiện. Phân biệt bài viết phân tích với kể lại, bài báo cáo với bài cảm nghĩ, nội quy với lời khuyên cá nhân. Mọi dữ liệu, nguồn và lời dẫn cần kiểm tra. Mô hình là bản viết hoàn chỉnh nguyên gốc, không phải văn của tác giả đang được học; chuyện hư cấu và tổ chức giả định được ghi rõ, không dùng làm chứng cứ thực tế.

Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.

Phân tích và đánh giá

Quy trình: làm rõ đề và người đọc; tìm ý gắn ngắt quãng vì thông báo; chọn căn cứ có xuất xứ; lập trật tự để làm rõ thừa nhận nhu cầu liên lạc; viết bản đầu và kiểm tra đề nghị thử và tự nhìn lại. Khi sửa, đánh dấu từng kết luận và tìm chi tiết nâng đỡ nó. Bài nghị luận cần quan hệ giải thích, không chỉ nêu ý đúng; báo cáo cần câu hỏi, phương pháp, kết quả, giới hạn và tài liệu; văn bản điều hành cần phạm vi, yêu cầu hoặc bước rõ, không tự tạo thẩm quyền. Phần mở định hướng, phần triển khai chứng minh, phần cuối khái quát và nêu phạm vi. Không để mẫu thay tiếng nói riêng, cũng không dựng số liệu để bài có vẻ khoa học.

Mô hình hoàn chỉnh và lời giải mẫu

Để điện thoại trở lại làm công cụ

Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

Khái niệm chính

Mục tiêu
thuyết phục thay thói quen có căn cứ, phù hợp người đọc
Trọng tâm nội dung
ngắt quãng vì thông báo và thừa nhận nhu cầu liên lạc
Kiểm tra chất lượng
đề nghị thử và tự nhìn lại

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Thực hiện một bản viết hoàn chỉnh theo tình huống và đề tài của mô hình; không dùng trải nghiệm hư cấu làm của mình. Có thể chọn cách lập luận khác nếu giữ căn cứ, giới hạn và đúng thể loại.

    Xem lời giải

    Để điện thoại trở lại làm công cụ

    Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

    Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

    Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

    Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

    Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

Ghi nhớ

Mục tiêu: thuyết phục thay thói quen có căn cứ, phù hợp người đọc; Trọng tâm nội dung: ngắt quãng vì thông báo và thừa nhận nhu cầu liên lạc; Kiểm tra chất lượng: đề nghị thử và tự nhìn lại.

Bài tập

Đã đúng 0/4 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập

    Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.

    Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm hướng tới người đọc cụ thể, cần một ý trung tâm và căn cứ phù hợp. Với kiểu thuyết phục thay thói quen, người viết phải xác định vấn đề trước khi lựa thông tin. Đọc bản mẫu dưới đây để nhận ra ngắt quãng vì thông báo, thừa nhận nhu cầu liên lạc và đề nghị thử và tự nhìn lại; không lấy tên thể loại thay cho việc thực hiện. Phân biệt bài viết phân tích với kể lại, bài báo cáo với bài cảm nghĩ, nội quy với lời khuyên cá nhân. Mọi dữ liệu, nguồn và lời dẫn cần kiểm tra. Mô hình là bản viết hoàn chỉnh nguyên gốc, không phải văn của tác giả đang được học; chuyện hư cấu và tổ chức giả định được ghi rõ, không dùng làm chứng cứ thực tế.

    Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.

    Phân tích và đánh giá

    Quy trình: làm rõ đề và người đọc; tìm ý gắn ngắt quãng vì thông báo; chọn căn cứ có xuất xứ; lập trật tự để làm rõ thừa nhận nhu cầu liên lạc; viết bản đầu và kiểm tra đề nghị thử và tự nhìn lại. Khi sửa, đánh dấu từng kết luận và tìm chi tiết nâng đỡ nó. Bài nghị luận cần quan hệ giải thích, không chỉ nêu ý đúng; báo cáo cần câu hỏi, phương pháp, kết quả, giới hạn và tài liệu; văn bản điều hành cần phạm vi, yêu cầu hoặc bước rõ, không tự tạo thẩm quyền. Phần mở định hướng, phần triển khai chứng minh, phần cuối khái quát và nêu phạm vi. Không để mẫu thay tiếng nói riêng, cũng không dựng số liệu để bài có vẻ khoa học.

    Mô hình hoàn chỉnh và lời giải mẫu

    Để điện thoại trở lại làm công cụ

    Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

    Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

    Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

    Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

    Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

  2. Câu 1Mức 1Trắc nghiệm 1 đáp án

    Cách thực hiện nào phù hợp mục đích của hoạt động này?

  3. Câu 2Mức 2Ghép nối

    Ghép các yếu tố với vai trò/đặc điểm được trình bày trong bản tóm giải.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  4. Câu 3Mức 2Đúng / Sai nhiều ý

    Đọc các nhận định về văn bản và cách sử dụng nguồn.

    ÝĐúngSai
    a)Trong hồ sơ này, Mục tiêu được gắn với thuyết phục thay thói quen có căn cứ, phù hợp người đọc.
    b)Trong hồ sơ này, Trọng tâm nội dung được gắn với đề nghị thử và tự nhìn lại.
    c)Các lời tóm giải ở đây là nguyên văn toàn bộ tác phẩm hoặc bản dịch trong sách.
    d)Khi đánh giá cần phân biệt điều ngữ liệu cung cấp với suy diễn ngoài căn cứ.
  5. Câu 4Mức 2Sắp xếp thứ tự

    Sắp xếp quy trình thực hiện theo quan hệ điều kiện trước – sau.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Đối chiếu yêu cầu, nhận phản hồi và chỉnh sửa.
    2. 2Tổ chức và thực hiện bản đầu theo mục đích.
    3. 3Xác định mục đích, đối tượng và yêu cầu.
    4. 4Kiểm tra tư liệu, chọn căn cứ có thể sử dụng.
  6. Câu 5Mức 3Tự luận

    Thực hiện một bản viết hoàn chỉnh theo tình huống và đề tài của mô hình; không dùng trải nghiệm hư cấu làm của mình. Có thể chọn cách lập luận khác nếu giữ căn cứ, giới hạn và đúng thể loại.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 6Mức 2Tự luận

    Lập kế hoạch thực hiện chính hoạt động trong hồ sơ: ghi mục đích, hai trọng tâm có tên cụ thể, nguồn/căn cứ và cách kiểm tra. Không chỉ chép tên ba phần mở–thân–kết.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 7Mức 2Tự luận

    Sửa nhận xét “Mô hình này chứng minh mọi người đều phải làm đúng như vậy”; thay bằng nhận xét đúng phạm vi và chỉ hai điều riêng của hoạt động vẫn phải giữ.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 2Tự luận

    Viết phản hồi có ba phần cho mô hình: một điểm đạt gắn chi tiết, một điều cần kiểm tra, một cách chỉnh hoặc thử lại.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay