Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Pa-ra-na (Claude Lévi-Strauss, văn bản thông tin, kí khảo cứu): Trong ghi chép về vùng Pa-ra-na ở miền nam Bra-xin, Lévi-Strauss kể lần theo một cán bộ cơ quan bảo vệ người bản địa tới khu vực cư trú của người Giê gần sông Ti-ba-gi. Ông đặt đời sống hiện tại vào lịch sử bị xâm lấn, truy đuổi và dồn vào các khu định cư. Những cơ sở như trường học, xưởng và nhà ở từng được dựng để ép họ theo mô hình đời sống do chính quyền lựa chọn, nhưng về sau bị bỏ mặc. Cư dân tiếp nhận một số vật dụng như quần áo, rìu, dao, kim, đồng thời vẫn chọn lối ở, thực phẩm và công cụ thích hợp với mình; nhiều thiết bị áp đặt không được dùng. Nhà quan sát ban đầu thất vọng vì họ không giống hình ảnh nguyên sơ mà ông tưởng tượng, rồi nhận ra chính định kiến của mình cần thay đổi. Đồ đá bên cạnh vật dụng kim loại, kĩ thuật tạo lửa và việc dùng cung cho thấy truyền thống không biến mất mà sống cùng những vay mượn mới. Kết đoạn trở lại những ngôi làng bỏ hoang và người đi trên đường rừng, nhấn mạnh sức bền của văn hóa trước chính sách cưỡng ép thiếu hiểu biết.
Đồ dùng mây tre đan (Phan Cẩm Thượng, văn bản thông tin văn hóa): Phan Cẩm Thượng bắt đầu từ hình ảnh xe thồ chở đồ đan ra chợ để giới thiệu một nghề gắn lâu đời với sinh hoạt nông thôn. Tre, nứa và mây được mô tả theo tính chất, nguồn nguyên liệu và các khâu chuẩn bị như chẻ, vót, làm vành. Từ đó văn bản phân loại vật dụng theo công năng: rá đan khít giữ gạo, rổ đan thưa cho rau và nước thoát; thúng, bồ, cót đáp ứng nhu cầu chứa lớn; giần, sàng, nong, nia phục vụ chế biến và phơi nông sản. Các loại hom, giỏ, dụng cụ đánh bắt, bu gà và đồ gia dụng mở rộng phạm vi sử dụng. Kĩ thuật đan phát triển từ kiểu đơn giản đến kiểu phức tạp, đòi hỏi kinh nghiệm, kiên nhẫn, sức khỏe và thẩm mĩ. Một gia đình xưa có thể dùng tre cho cả nhà cửa, giường, bàn ghế và đồ nhỏ; đồ hỏng được sửa hoặc thay. Mây bổ sung độ mềm, độ dai cho dây và vòng, còn vật liệu địa phương như lá cọ, lá dừa, bẹ ngô, gai kết hợp với tre. Những ví dụ và hình ảnh hiện vật trong bản in dựng lại văn minh vật chất, từ lao động và tiết kiệm đến phong tục, ngôn ngữ và bản sắc vùng miền.
Đời muối (Mark Kurlansky, văn bản thông tin lịch sử): Đoạn trích của Mark Kurlansky tiếp cận lịch sử từ muối thay vì chỉ từ vua chúa hay chiến trận. Tác giả lần theo sự thay đổi sau băng hà, quá trình thuần hóa động vật và phát triển trồng trọt để giải thích nhu cầu muối trong đời sống người và vật nuôi. Khi nguồn thực phẩm, cách sản xuất và chế độ ăn thay đổi, muối trở thành hàng hóa quan trọng, liên quan đến hoạt động chế tạo, khai thác, vận chuyển và độc quyền nhà nước. Các tuyến thương mại thúc đẩy công trình và kĩ thuật, đồng thời gắn với liên minh, xung đột và nổi dậy. Dù muối tồn tại rộng khắp, con người trong nhiều thời đại không biết cách tìm và khai thác thuận lợi, nên nó từng biểu thị giàu có. Văn bản nêu những chính quyền thu thuế muối, việc dùng muối trong trao đổi và ý kiến của Adam Smith về hàng hóa làm phương tiện giao dịch. Cuối cùng, tác giả đối chiếu những cuộc tranh giành xa xưa với sự bình thường của muối trong đời sống hiện đại, từ đó suy ngẫm về tính thay đổi của giá trị vật chất. Những niên đại cổ được kể là thông tin của nguồn, cần đối chiếu nghiên cứu khảo cổ mới nếu dùng để kết luận khoa học.
Tình huống vận dụng:
Dữ liệu giả định:
| Vật dụng | Cấu tạo | Nhu cầu sử dụng |
|---|
| Rá | Nan khít | Giữ gạo khi vo |
| Rổ | Nan thưa | Rửa rau, thoát nước |
| Thúng | Lòng sâu | Chứa, vận chuyển |
| Bảng do người biên soạn hệ thống từ thông tin đã phân tích, không phải ảnh hiện vật. | | |
Phân tích hoàn chỉnh: Có thể giải thích công dụng qua cấu tạo. Chưa thể từ bảng suy ra mọi đồ vật đều làm cùng vật liệu, cùng kích thước hoặc cùng niên đại; phải bổ sung nguồn tương ứng nếu đặt những câu hỏi ấy.
Bảng ôn tập đã hoàn thành:
| Văn bản | Dữ kiện và tổ chức nổi bật | Nhận định có căn cứ |
|---|
| Pa-ra-na | Các dữ kiện lịch sử được dẫn lại cần phân biệt với những vật dụng tác giả trực tiếp quan sát. Cách kết hợp ấy giúp giải thích đời sống hiện tại mà không coi cộng đồng như một vật mẫu bất biến. | Việc tác giả thú nhận mong đợi sai lầm biến cái tôi thành đối tượng tự phê bình. Không có một tiêu chuẩn thuần khiết cho phép phủ nhận bản sắc người bản địa vì họ dùng đồ hiện đại. |
| Đồ dùng mây tre đan | Đối chiếu rá khít giữ hạt và rổ thưa thoát nước cho thấy cấu tạo được giải thích bằng công năng, không chỉ nêu danh mục. Đây là bằng chứng bằng lời đã có trong bản tóm lược, không cần một ảnh chưa được cung cấp. | Trình tự nguyên liệu, kĩ thuật, sản phẩm và đời sống giúp người đọc đi từ vật cụ thể đến tri thức văn hóa. Khả năng tận dụng nhiều phần của cây và sửa đồ thể hiện kinh nghiệm tiết kiệm chứ không chứng minh mọi đồ tre luôn bền hoặc an toàn hơn vật liệu khác. |
Tôi dùng cùng hai cột dữ kiện – cách tạo nghĩa để đối chiếu, không đánh đồng thể loại hoặc lấy lời tóm lược làm câu trích nguyên tác.