Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường, bút kí): Dòng Hương được nhìn từ thượng nguồn đến Huế và trong liên hệ với lịch sử, âm nhạc, thi ca. Người viết kết hợp quan sát địa hình với vốn văn hóa và những so sánh giàu tưởng tượng. Hành trình dòng sông vì thế cũng trở thành hành trình khám phá chiều sâu một vùng đất.
Trục địa lí từ Trường Sơn qua vùng đồi đến Huế và khúc ngoặt Bao Vinh được gắn với những dáng vẻ phóng khoáng, dịu dàng, lưu luyến do người viết hình dung. Liên tưởng mở sang nhạc Huế, Nguyễn Du, các thi nhân và lịch sử vùng đất; huyền thoại tên sông được phân biệt với tư liệu địa lí.
“Và tôi vẫn muốn mẹ…” (Svetlana Alexievich, kí, lời chứng hồi ức): Một người trưởng thành kể lại trải nghiệm chiến tranh từ thời còn là trẻ em trong Những nhân chứng cuối cùng. Kí ức mất mát và nhu cầu được mẹ chở che vẫn sống trong lời kể sau nhiều năm. Nhà văn ghi nhận tiếng nói nhân chứng, để lịch sử hiện ra qua số phận riêng.
Nhân chứng là Din-na Cô-si-ắc, tám tuổi khi có trải nghiệm chiến tranh, về sau làm thợ tóc. Chị kể tản cư, ăn cỏ và vỏ cây vì đói, tiếng khóc khi nhắc mẹ, việc được ông Bôn-sa-cốp đưa về nuôi và những lần tìm mẹ. Lúc kể, chị năm mươi mốt tuổi, có hai con mà vẫn mong mẹ.
Cà Mau quê xứ (Trần Tuấn, tản văn, kí): Người viết đi đến Cà Mau, quan sát thiên nhiên và gặp con người vùng đất cực Nam. Những ấn tượng trên đường gắn với kí ức đọc văn và cảm giác về quê xứ. Cảnh vật không chỉ được liệt kê mà được cảm nhận qua một cái tôi đang trực tiếp trải nghiệm.
Tác giả đi Đất Mũi với kí ức đọc Nguyễn Tuân, Anh Đức, Xuân Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Sơn Nam. Anh gặp vợ chồng anh Phúc chị Tuyết làm nghề ghẹ, nghe lo lắng về rừng đước trước nghề nuôi tôm. Cuối bài, ánh mắt cô gái Năm Căn gợi lưu luyến khi anh rời Mũi. Thông tin giá cả trong tác phẩm, nếu đọc, thuộc thời điểm chuyến đi, không phải báo giá hôm nay.
Tình huống vận dụng:
Nhật kí quan sát nguyên gốc: lúc 6 giờ, nhóm đến bến và đếm được bốn thuyền neo gần bờ. Người ghi viết rằng mặt nước như đang ngái ngủ. Một cụ kể bến từng đông hơn, nhưng nhóm chưa tìm được sổ ghi chép cũ để đối chiếu.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Cây diêm cuối cùng (Cao Huy Thuần, tản văn nghị luận có tự sự); không phải nguyên văn tác phẩm.
Người viết dẫn một tình huống chiến tranh: trong hoàn cảnh nguy hiểm, sự chia sẻ nguồn lửa cuối cùng có thể nối hai người ở hai phía đối địch. Câu chuyện được dùng để suy nghĩ về lòng nhân và những giới hạn của sự thù địch. Điều đáng đọc là quan hệ giữa câu chuyện và lời bàn, không phải xem tình huống kể như hồ sơ tác chiến.
Trong chùa hoang giữa bão tuyết, người lính đối địch đưa diêm và giấy có thơ giúp nhóm lửa. Chỉ còn một que, anh giật lấy để bật khi tay người kể run, rồi gục xuống vì thương tích và chết. Sau chiến tranh người kể trở lại dựng chùa, giữ bài thơ; việc bài thơ xuất hiện hoàn chỉnh sau khi tờ trước dùng mồi lửa tạo màu sắc hư cấu, gợi nghĩ về tình người.