Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập
Củng cố, mở rộng – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.
Ôn tập Bài 2 cần nối tri thức thể loại, các văn bản đọc, tiếng Việt, viết và nói; không chỉ nhớ tên tác giả. Hồ sơ sau giữ lại hai trường hợp để các câu hỏi có đủ căn cứ khi mở riêng ngân hàng.
Trường hợp A – Chùm thơ hai-cư Nhật Bản: Diễn giải nguyên gốc, không chép ba bản dịch: bài Ba-sô đặt một con quạ trên nhánh cây đã khô trong không gian chiều thu, tạo cảm giác lặng và cô tịch. Bài Chi-y-ô phát hiện hoa triêu nhan quấn vào dây lấy nước; người trong thơ chọn sang nhà khác xin nước, để sự sống nhỏ bé không bị phá vỡ. Bài Ít-sa đặt một con ốc nhỏ, chuyển động chậm, trước ngọn núi Phu-gi lớn lao; lời hướng tới con vật gợi sự trìu mến và khích lệ. Cả ba lấy khoảnh khắc giản dị, không kể dài hay giải thích triết lí trực tiếp.
Trường hợp B – Thu hứng: Tóm giải nguyên gốc: bài đầu trong chùm thơ mùa thu được sáng tác khi Đỗ Phủ sống phiêu bạt ở Quỳ Châu năm 766. Cảnh mở ra với rừng phong, sương, núi và hẻm sông trong khí thu lạnh, tối. Sóng và mây tạo chuyển động mạnh giữa trời - đất, làm không gian rộng mà bất an. Từ cảnh ngoài, mạch thơ chuyển vào nỗi buồn của người xa quê qua cúc nở nhiều mùa và chiếc thuyền gắn tâm tưởng về nhà. Cuối bài, hoạt động may áo lạnh, tiếng chày đập vải gợi sinh hoạt khi chiều xuống, càng làm nỗi nhớ quê thấm sâu.
Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.