Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu, nghị luận văn hóa): Trần Đình Hượu mở đầu bằng một giới hạn nghiên cứu: ông chỉ đề xuất nhận xét về những mặt văn hóa đã lắng đọng trước thời cận, hiện đại, không nhận mình đã kết luận mọi đặc sắc dân tộc. Ông nhìn vào thần thoại, tôn giáo, triết học, khoa học và nghệ thuật để nhận định truyền thống không nổi bật ở những hệ thống đồ sộ hay thành tựu chuyên biệt đạt cực điểm. Sau đó, ông gắn thực trạng ấy với nền sản xuất nông nghiệp định cư và điều kiện xã hội. Phần khảo sát lối sống, ước mong, kiểu người được ưa chuộng, quan niệm cái đẹp và cách ứng xử làm rõ thiên hướng coi trọng đời sống thiết thực, tình nghĩa, sự vừa phải và thích ứng. Tác giả vừa nhận ra nền tảng nhân bản, khả năng dung hòa, vừa nêu giới hạn về khát vọng lớn và sự dè dặt trước cái mới. Kết luận nhấn bản sắc hình thành bằng cả vốn sẵn có lẫn việc tiếp nhận, sàng lọc Phật giáo, Nho giáo và các giá trị bên ngoài. Đây là lập luận có bối cảnh lịch sử của người nghiên cứu, không phải bản mô tả bất biến mọi người Việt.
Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu, nghị luận): Phan Đình Diệu bắt đầu từ việc khó định nghĩa trọn vẹn sáng tạo, rồi nhận diện tính mới, độc đáo cùng vai trò tư duy và tưởng tượng. Ông ví ý tưởng xuất hiện bất ngờ nhưng nhấn sự chuẩn bị lâu dài bằng lao động trí tuệ, không thể hẹn trước khoảnh khắc phát kiến. Từ quan niệm chỉ trí thức, nghệ sĩ mới sáng tạo, bài viết chuyển sang khả năng của mọi người trong nền kinh tế tri thức. Các gợi ý phát triển năng lực gồm tin mình có thể sáng tạo, mở rộng quan tâm và kinh nghiệm, tìm liên hệ, thay thói quen cản trở, bố trí môi trường, thời gian và kiên trì. Sáng tạo có thể là đóng góp nhỏ giải quyết vấn đề đời sống, không chỉ thành tựu nổi tiếng. Bài viết tiếp tục phân tích động lực ham hiểu biết, cạnh tranh và yêu cầu chiến lược quốc gia. Kết đoạn nối bộ óc cá nhân với trao đổi tập thể, kho tri thức và công nghệ thông tin: lợi ích cá nhân, tổ chức và đất nước gặp nhau ở việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo. Các phát biểu là quan điểm nghị luận trong bối cảnh văn bản, không phải phép đo thực nghiệm về mọi hình thức trí tuệ hiện nay.
Mấy ý nghĩ về thơ (Nguyễn Đình Thi, nghị luận văn học): Nguyễn Đình Thi lần lượt xét rồi chỉ ra giới hạn của các quan niệm nhận diện thơ bằng lời đẹp, đề tài đẹp hoặc khả năng dễ nhớ. Từ đó ông chuyển điểm xuất phát vào sự rung động của tâm hồn khi tiếp xúc cuộc sống. Thơ làm sống lại cảm xúc nơi người đọc; người đọc không tiếp nhận thụ động mà tự tạo trạng thái tinh thần khi gặp chữ và hình ảnh. Tư tưởng trong thơ gắn với cảm xúc, không tách thành khái niệm thuần lí. Phần sau bàn hình ảnh mới nảy từ cách nhìn đời sống, sức gợi vượt nghĩa gọi tên của từ và nhịp điệu bên trong của hình ảnh, tình ý, cả khoảng im lặng. Đến vấn đề thơ tự do, thơ có vần và không vần, tác giả đề cao tìm tòi, thử thách bằng thực tế sáng tác thay vì cấm đoán theo khuôn có sẵn. Tuy nhiên, bỏ ràng buộc máy móc không phải cho phép cẩu thả: người viết vẫn cần kỉ luật nghệ thuật tự giác, để hình thức biểu đạt được tâm hồn và tư tưởng của thời đại.
Tình huống vận dụng:
Lập luận nguyên gốc: “Một lớp thử đọc sách trước giờ học trong một tuần và có 12 bạn nói thấy tập trung hơn. Vì vậy, mọi học sinh cả nước chắc chắn sẽ học tốt hơn nếu áp dụng.” Chưa có số người toàn lớp hoặc phép đo thành tích.
Phân tích hoàn chỉnh: Kết luận vượt mẫu và thay tự báo cáo bằng thành tích học tập. Có thể nói trong nhóm được hỏi có 12 phản hồi tích cực, chưa đủ khẳng định quan hệ nhân quả hoặc mức đại diện quốc gia.
Bảng ôn tập đã hoàn thành:
| Văn bản | Dữ kiện và tổ chức nổi bật | Nhận định có căn cứ |
|---|
| Nhìn về vốn văn hóa dân tộc | Tác giả đi qua nhiều lĩnh vực rồi mới rút nét chung. Cách quy nạp này làm nhận định có chuỗi căn cứ, nhưng người đọc vẫn phải xét giới hạn thời kì đã nêu ở mở đầu. | Khả năng thích ứng, sống tình nghĩa được đặt cạnh sự hạn chế của sản xuất và tâm lí dè dặt. Vì thế, nhìn nhận không chỉ tự hào một chiều, cũng không phủ nhận toàn bộ truyền thống. |
| Năng lực sáng tạo | Hình dung ý tưởng bất chợt được đặt cạnh quá trình tích lũy bền bỉ. Quan hệ ấy bác quan niệm cứ chờ cảm hứng là đủ, đồng thời không hứa lịch trình bảo đảm một phát minh. | Tác giả mở chủ thể từ nhóm nhà khoa học, nghệ sĩ sang người sản xuất và kinh doanh. Sự chuyển phạm vi nối năng lực cá nhân với sức cạnh tranh chung, không chỉ với danh tiếng cá nhân. |
Tôi dùng cùng hai cột dữ kiện – cách tạo nghĩa để đối chiếu, không đánh đồng thể loại hoặc lấy lời tóm lược làm câu trích nguyên tác.