Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Đoạn trích chương cuối Số đỏ bắt đầu ở sân quần vợt Hà Nội đông khán giả và quan chức ba phía. Hai tay vợt Hải, Thụ vắng mặt vì đã bị Xuân lừa đẩy vào nơi tạm giữ; ban tổ chức phải đưa Xuân đấu với quán quân Xiêm. Xuân có lợi thế, khiến vua Xiêm tức giận và giới chức lo sự thắng thua sẽ ảnh hưởng ngoại giao. Qua Văn Minh, họ buộc Xuân nhường đối thủ; Xuân đánh hỏng quả quyết định. Đám đông thất vọng, có người phản đối và đòi giải thích. Văn Minh cùng Xuân trèo lên xe, biến việc chịu thua thành sự hi sinh để tránh chiến tranh. Xuân nói trịch thượng, vừa nói vừa làm bộ; khán giả lại cảm phục và tung hô. Người kể đặt cạnh chiến thuật, lợi ích, diễn thuyết và tâm lí đám đông để vạch sự đảo lộn giá trị. Đây là một cuộc đấu hư cấu, không phải hồ sơ ngoại giao lịch sử.
Chiều ba mươi Tết, đúng lúc gia đình ông Bằng chuẩn bị cúng tất niên, chị Hoài từ quê lên. Chị từng là vợ anh cả Tường đã hi sinh, nay có gia đình riêng nhưng vẫn thư từ, quan tâm những biến động của nhà chồng trước. Phượng, Lý, Đông và Luận vui mừng đón chị; các món quà quê cùng câu hỏi về từng người cho thấy sự gắn bó bền bỉ. Chị lên ngay sau khi biết chuyện Cừ, lo ông Bằng buồn. Cuộc gặp cha chồng và con dâu cũ khiến cả hai nghẹn ngào, còn Phượng xúc động. Trong lễ gia tiên, ông Bằng nhớ tổ tiên, người vợ và con trai đã mất, cảm nhận sự nối tiếp các thế hệ. Tuy vậy, ông bỏ tên Cừ khi khấn, để lộ một vết rạn chưa lành. Sau lễ, tài nấu nướng và sự chuẩn bị công phu của Lý hiện lên qua mâm cỗ; mọi người cùng vào ăn. Cảnh sum họp giữ cả hơi ấm truyền thống lẫn dự báo xung đột, không khẳng định gia đình đã hết mọi vấn đề.
Phân tích hoàn chỉnh: Chào thầy cô và các bạn. Tôi xin trình bày về so sánh cách tiểu thuyết làm hiện đời sống xã hội trong xuân tóc đỏ cứu quốc và mùa lá rụng trong vườn. Mục đích là chỉ ra một cách hiểu có căn cứ, đồng thời nói rõ điều chưa đủ dữ liệu để kết luận.
Ở đoạn thứ nhất, một trận quần vợt được nâng thành chuyện công trạng quốc gia. Khoảng cách giữa hành động thực và lời tung hô tạo tiếng cười trào phúng. Sự chuyển thái độ của đám đông cho thấy danh tiếng không chỉ do cá nhân tự dựng mà còn được cả một cơ chế tiếp nhận tiếp sức. Xã hội hiện ra qua một cuộc diễn tập thể của những lời khoa trương.
Ở đoạn thứ hai, chiều ba mươi Tết đưa người thân trở về trong một không gian nghi lễ và sum họp. Chị Hoài không còn sống trong gia đình cũ nhưng vẫn được đón nhận bằng nghĩa tình. Những cử chỉ và cuộc gặp ông Bằng làm sáng một mối liên hệ bền hơn thay đổi nơi ở hoặc quan hệ pháp lí. Đời sống gia đình được nhìn từ chiều sâu gắn bó, không phải chỉ như một bảng quan hệ.
Cả hai đoạn đều dùng một sự kiện làm nơi hội tụ nhiều quan hệ, nhưng hiệu quả cảm xúc khác nhau. Một bên tạo khoảng cách phê phán qua nghịch lí danh vọng; một bên khơi đồng cảm qua ứng xử giữ nghĩa. Sự khác biệt gắn với đối tượng khám phá và lựa chọn nghệ thuật, không phải căn cứ để xếp một tác phẩm luôn cao hơn tác phẩm kia.
Từ những điểm trên, tôi rút ra: Hai cách viết cùng cho thấy tiểu thuyết không chỉ kể điều đã xảy ra mà còn tổ chức cách ta nhìn con người. So sánh theo tình huống, giọng điệu và quan hệ xã hội giúp nhận ra điều ấy. Đồng thời, kết luận ở đây chỉ thuộc hai đoạn được cung cấp, không thay toàn bộ thế giới của hai tiểu thuyết. Xin người nghe ghi một dấu hiệu ủng hộ nhận định và một câu hỏi cần làm rõ.
Câu hỏi của người nghe: Nhận xét này có áp dụng cho mọi trường hợp không? Trả lời: Không. Tôi giữ kết luận trong phạm vi ngữ liệu đã nêu; trường hợp mới cần đối chiếu riêng. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe.