Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Tác gia Nguyễn Du (Nhóm biên soạn sách giáo khoa, văn bản tác gia): Nguyễn Du (1765–1820), quê Tiên Điền, Hà Tĩnh, sống qua nhiều biến động cuối thế kỉ XVIII và đầu XIX. Ông sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm. Truyện Kiều là tác phẩm chữ Nôm tiêu biểu; các tập thơ chữ Hán bộc lộ suy tư về con người, lịch sử và thân phận.
Nguyễn Du từng làm quan và đi sứ. Thơ chữ Hán gồm Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục; sáng tác chữ Nôm có Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh. Kiều chịu tai biến và câu hỏi tri âm trong Độc Tiểu Thanh kí là hai đầu mối nhận diện lòng thương người gắn phẩm giá, tài năng.
Trao duyên (Nguyễn Du, đoạn trích truyện thơ Nôm): Sau khi chọn bán mình để cứu gia đình, Thúy Kiều nhờ Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng. Kiều trao kỉ vật nhưng không thể trao hết tình yêu và kí ức. Lời nói chuyển từ thuyết phục em đến hình dung thân phận mình, rồi như hướng trực tiếp về người yêu vắng mặt.
Thúy Vân thức dậy hỏi chuyện trong đêm, Kiều nhờ em nhận lời. Kỉ vật được diễn ý gồm chiếc vòng và tờ ghi lời thề; Kiều mong em giữ lại phần của chung. Sau đó nàng tưởng tượng đã chết, trở về trong gió, rồi gọi Kim Trọng. Hồ sơ chỉ diễn ý chuyển mạch, không cung cấp nguyên tác để đếm nhịp.
Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du, thơ chữ Hán luật Đường): Đọc dấu vết còn lại về Tiểu Thanh, chủ thể thương người phụ nữ tài hoa chịu bất hạnh. Từ chuyện một con người, suy tư mở rộng về số phận người có tài và quyền được thấu hiểu. Cuối bài, câu hỏi hướng tới khả năng có người đời sau tri âm với chính mình.
Cảnh vườn Tây Hồ hoang phế, trang viết còn lại và việc văn chương bị đốt gợi nỗi thương tài sắc. Cuối bài, chủ thể hỏi người sau hơn ba trăm năm có ai khóc Tố Như, tên tự của Nguyễn Du. Mốc thời gian mang tính ước lệ; không xác nhận một cuộc gặp trực tiếp giữa Nguyễn Du với Tiểu Thanh.
Tình huống vận dụng:
Hà giữ chiếc vòng mẹ tặng nhưng phải bán nó để có tiền chữa bệnh cho em. Trước khi trao vòng, Hà chụp lại hoa văn, rồi dặn người mua giữ cẩn thận. Sau đó Hà vẫn quay nhìn chiếc hộp rỗng. Đây là tình huống luyện tập nguyên gốc, không phải sự kiện trong Truyện Kiều.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Chí khí anh hùng (Nguyễn Du, đoạn trích truyện thơ Nôm); không phải nguyên văn tác phẩm.
Sau thời gian gắn bó với Kiều, Từ Hải quyết ra đi thực hiện chí lớn. Kiều muốn theo, còn Từ Hải thuyết phục nàng chờ một ngày trở lại xứng đáng. Ngôn ngữ và hình ảnh đặt nhân vật trong không gian rộng, làm hiện ra một hình mẫu anh hùng được lí tưởng hóa.
Từ Hải ra đi với gươm, ngựa trong không gian trời biển; cuối đoạn có hình ảnh chim bằng. Nàng Kiều xin đi theo, chàng nói cảnh bốn bể chưa có nhà, hẹn khoảng một năm sẽ trở lại cùng lực lượng lớn để đón nàng. Đó là lời hẹn, không phải kết quả đã diễn ra.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Mộng đắc thái liên (Nguyễn Du, thơ chữ Hán); không phải nguyên văn tác phẩm.
Trong giấc mộng hái sen, chủ thể hình dung cảnh người hái, hoa, lá và ngó sen. Những bộ phận của cây không chỉ tạo cảnh mà còn gợi suy ngẫm về điều dễ nhìn thấy và phần giá trị kín sâu. Bài thơ vận động từ vẻ đẹp của một sinh hoạt đến ý nghĩa chiêm nghiệm.
Cảnh mơ có thuyền nhỏ, bóng người trong nước, lời hẹn cô hàng xóm và tiếng cười sau hoa. Mạch ảnh đi qua hoa, gương, cuống có tơ bền và ngó sen; cuối bài dặn đừng làm hại ngó để mùa sau còn hoa. Không lấy giai thoại tình yêu làm sự kiện tiểu sử đã chắc chắn.