Ngữ liệu luyện tập nguyên gốc; số liệu nếu có là giả định, không phải kết quả khảo sát thực tế.
Cầu hiền chiếu (Ngô Thì Nhậm, chiếu): Ngô Thì Nhậm soạn lời chiếu theo chủ trương của vua Quang Trung, kêu gọi người hiền tài ra giúp nước. Văn bản nêu lẽ người tài cần được sử dụng, nhìn lại tình trạng sĩ phu còn dè dặt và trình bày nhu cầu xây dựng đất nước. Lời mời đi kèm những con đường tiến cử, tự tiến cử.
Lời chiếu gợi người hiền như sao sáng hướng về Bắc Thần, đối chiếu việc sĩ phu còn ẩn mình với tình thế cần dựng xây đất nước. Người được mời có thể tự trình bày hoặc được người khác tiến cử theo khả năng.
Tôi có một ước mơ (Martin Luther King Jr., diễn văn nghị luận): Trong diễn văn tại Washington năm 1963, Martin Luther King Jr. yêu cầu chấm dứt phân biệt chủng tộc và thực hiện quyền bình đẳng. Ông đối chiếu lời hứa về quyền con người với sự bất công đang tồn tại. Viễn cảnh một xã hội công bằng gắn với lời thúc giục hành động không bạo lực.
Các ví dụ bất công liên quan chỗ nghỉ, quyền đi lại, quyền bầu cử và trẻ em bị hạ thấp vì màu da. Viễn cảnh tương lai gồm con cháu nô lệ và chủ nô ngồi cùng nhau, trẻ em được nhìn bằng phẩm cách và những cộng đồng cùng nắm tay; lời kêu gọi giữ kỉ luật bất bạo động.
Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh, phê bình văn học): Trong phần tiểu luận thuộc Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh tìm tinh thần Thơ mới bằng cách khảo sát cái chung nổi bật và những bài thơ có giá trị. Ông đặt sự trỗi dậy của ý thức cá nhân bên cạnh truyền thống cộng đồng, đồng thời nhận ra nỗi bơ vơ và nhu cầu tìm chỗ dựa trong tiếng Việt.
Tiêu chí đọc là so bài hay với bài hay và nhìn xu hướng chung. Người viết lần lượt gợi các hướng sáng tạo của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, rồi bàn việc gửi nỗi niềm riêng vào tiếng Việt và truyền thống.
Tình huống vận dụng:
Nhóm thư viện đề nghị mở tủ sách vào giờ nghỉ. Luận điểm thứ nhất: học sinh thiếu thời gian đến thư viện sau giờ học. Một khảo sát lớp giả định ghi 18 trong 30 bạn phải về ngay để đón em. Nhóm đề nghị thử trong hai tuần rồi đánh giá số lượt mượn.
Tóm lược và chỉ dẫn phân tích nguyên gốc về Tiếp xúc với tác phẩm (Thái Bá Vân, nghị luận về nghệ thuật); không phải nguyên văn tác phẩm.
Từ việc tiếp xúc bức tranh Em Thúy của Trần Văn Cẩn, người viết phân biệt sự tồn tại bằng vật liệu với đời sống hình tượng của tác phẩm. Người xem không chỉ kiểm kê màu và khung mà còn tham gia kiến tạo ý nghĩa bằng kinh nghiệm thẩm mĩ. Việc tiếp nhận vẫn phải gắn với hình thức cụ thể của bức tranh.
Từ Em Thúy, bài tách việc nhận biết vải, sơn, khung, kích thước khỏi việc cảm nhận hình tượng và con mắt Trần Văn Cẩn. Cùng một tranh, người xem ở các thời có thể góp vào đời sống ý nghĩa khác nhau.