Ngữ văn 8
Ngữ vănLớp 8Bài 4. Tiếng cười trào phúng trong thơ

Củng cố, mở rộng trang 97

Mục tiêu bài học

  • Nắm kiến thức của phần học và vận dụng bằng chứng, cách diễn đạt phù hợp để tự đọc, tự viết.

Bài giảng

Hệ thống hóa bằng bằng chứng

Lập bảng: tên văn bản, thể loại, vấn đề, chi tiết, cách giải thích. Các văn bản trong bài: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu, Lai Tân, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng. Không dùng một câu “giàu ý nghĩa” cho mọi tác phẩm.

So sánh và chuyển giao

Khi so sánh, chọn cùng tiêu chí như điểm nhìn, giọng điệu hoặc cách dùng bằng chứng. Nêu điểm chung rồi chỉ nét riêng có chi tiết; liên hệ đời sống cần giữ giới hạn của bối cảnh lịch sử và thể loại.

Ghi nhớ

Khi so sánh, chọn cùng tiêu chí như điểm nhìn, giọng điệu hoặc cách dùng bằng chứng. Nêu điểm chung rồi chỉ nét riêng có chi tiết; liên hệ đời sống cần giữ giới hạn của bối cảnh lịch sử và thể loại.

Dễ nhầm

  • Không thay phân tích bằng nhãn khen/chê chung chung; mọi nhận xét về văn bản cần có chi tiết và lời giải thích.

Bài tập

Đã đúng 0/0 câu

  1. Câu 1Mức 2Tự luận

    Đọc ngữ liệu tóm lược, sau đó nêu một nhận xét có giới hạn và chứng minh bằng hai chi tiết.

    Tóm lược Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương — thơ trào phúng; thất ngôn bát cú.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Bài thơ quan sát một khoa thi trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Cảnh sĩ tử và quan trường được miêu tả bằng nét nhếch nhác, ồn ào, trái với vẻ trang nghiêm mà một kì thi chọn người tài đáng lẽ phải có. Sự xuất hiện của quyền lực ngoại bang làm nổi bật tình thế mất chủ quyền văn hóa và chính trị. Tiếng cười không dừng ở chê vài dáng người; xen trong giọng châm biếm là nỗi đau trước sự đảo lộn giá trị. Cuối bài, lời hướng tới người có trách nhiệm làm câu chuyện vượt khỏi một cảnh thi riêng. Khi đọc, tránh coi hình thức trào phúng là sự chế giễu ngoại hình vô cớ; đối tượng chính là tình trạng xã hội được phơi bày.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  2. Câu 2Mức 3Tự luận

    Với ngữ liệu sau, phân biệt một điều được kể/nêu trực tiếp và một điều em suy luận. Giải thích căn cứ.

    Tóm lược Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương — thơ trào phúng; thất ngôn bát cú.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Bài thơ quan sát một khoa thi trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Cảnh sĩ tử và quan trường được miêu tả bằng nét nhếch nhác, ồn ào, trái với vẻ trang nghiêm mà một kì thi chọn người tài đáng lẽ phải có. Sự xuất hiện của quyền lực ngoại bang làm nổi bật tình thế mất chủ quyền văn hóa và chính trị. Tiếng cười không dừng ở chê vài dáng người; xen trong giọng châm biếm là nỗi đau trước sự đảo lộn giá trị. Cuối bài, lời hướng tới người có trách nhiệm làm câu chuyện vượt khỏi một cảnh thi riêng. Khi đọc, tránh coi hình thức trào phúng là sự chế giễu ngoại hình vô cớ; đối tượng chính là tình trạng xã hội được phơi bày.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  3. Câu 3Mức 3Tự luận

    Đọc và sửa nhận xét thiếu căn cứ: “Không cần xem ngữ cảnh, chi tiết nào cũng có cùng tác dụng.”

    Tóm lược Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương — thơ trào phúng; thất ngôn bát cú.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Bài thơ quan sát một khoa thi trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Cảnh sĩ tử và quan trường được miêu tả bằng nét nhếch nhác, ồn ào, trái với vẻ trang nghiêm mà một kì thi chọn người tài đáng lẽ phải có. Sự xuất hiện của quyền lực ngoại bang làm nổi bật tình thế mất chủ quyền văn hóa và chính trị. Tiếng cười không dừng ở chê vài dáng người; xen trong giọng châm biếm là nỗi đau trước sự đảo lộn giá trị. Cuối bài, lời hướng tới người có trách nhiệm làm câu chuyện vượt khỏi một cảnh thi riêng. Khi đọc, tránh coi hình thức trào phúng là sự chế giễu ngoại hình vô cớ; đối tượng chính là tình trạng xã hội được phơi bày.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  4. Câu 4Mức 2Tự luận

    Đọc ngữ liệu tóm lược, sau đó nêu một nhận xét có giới hạn và chứng minh bằng hai chi tiết.

    Tóm lược Lai Tân (Hồ Chí Minh — tứ tuyệt trào phúng.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Trong Lai Tân, Hồ Chí Minh kể chuyện ban trưởng nhà lao đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền của người bị giải và huyện trưởng chong đèn làm việc. Hai hành vi đầu trực tiếp phơi sai trái; riêng hình ảnh huyện trưởng cần đọc trong toàn bài, không tự thêm rằng ông ta hút thuốc phiện hoặc chắc chắn làm một việc cụ thể không được nêu. Câu kết nói địa phương vẫn có vẻ yên ổn, trái với thực trạng đã phơi ra. Giọng kể ngắn, bình thản làm bật sự mỉa mai: những điều trái phép bị coi như chuyện thường ngày trong bộ máy. Vì vậy, phải đọc lời kết trong quan hệ với các câu trước, không tách thành lời ca ngợi việc cai trị.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  5. Câu 5Mức 3Tự luận

    Với ngữ liệu sau, phân biệt một điều được kể/nêu trực tiếp và một điều em suy luận. Giải thích căn cứ.

    Tóm lược Lai Tân (Hồ Chí Minh — tứ tuyệt trào phúng.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Trong Lai Tân, Hồ Chí Minh kể chuyện ban trưởng nhà lao đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền của người bị giải và huyện trưởng chong đèn làm việc. Hai hành vi đầu trực tiếp phơi sai trái; riêng hình ảnh huyện trưởng cần đọc trong toàn bài, không tự thêm rằng ông ta hút thuốc phiện hoặc chắc chắn làm một việc cụ thể không được nêu. Câu kết nói địa phương vẫn có vẻ yên ổn, trái với thực trạng đã phơi ra. Giọng kể ngắn, bình thản làm bật sự mỉa mai: những điều trái phép bị coi như chuyện thường ngày trong bộ máy. Vì vậy, phải đọc lời kết trong quan hệ với các câu trước, không tách thành lời ca ngợi việc cai trị.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  6. Câu 6Mức 3Tự luận

    Đọc và sửa nhận xét thiếu căn cứ: “Không cần xem ngữ cảnh, chi tiết nào cũng có cùng tác dụng.”

    Tóm lược Lai Tân (Hồ Chí Minh — tứ tuyệt trào phúng.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Trong Lai Tân, Hồ Chí Minh kể chuyện ban trưởng nhà lao đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền của người bị giải và huyện trưởng chong đèn làm việc. Hai hành vi đầu trực tiếp phơi sai trái; riêng hình ảnh huyện trưởng cần đọc trong toàn bài, không tự thêm rằng ông ta hút thuốc phiện hoặc chắc chắn làm một việc cụ thể không được nêu. Câu kết nói địa phương vẫn có vẻ yên ổn, trái với thực trạng đã phơi ra. Giọng kể ngắn, bình thản làm bật sự mỉa mai: những điều trái phép bị coi như chuyện thường ngày trong bộ máy. Vì vậy, phải đọc lời kết trong quan hệ với các câu trước, không tách thành lời ca ngợi việc cai trị.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 7Mức 2Tự luận

    Đọc ngữ liệu tóm lược, sau đó nêu một nhận xét có giới hạn và chứng minh bằng hai chi tiết.

    Tóm lược Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng (Trần Thị Hoa Lê — nghị luận văn học.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Văn bản giúp người đọc phân biệt những sắc thái của tiếng cười trào phúng, không xem mọi tiếng cười đều giống nhau. Hài hước có thể nhẹ nhàng, thân thiện; mỉa mai thường dùng lời có vẻ khen hoặc bình thản để lộ điều trái ngược; đả kích có sức công phá mạnh với đối tượng bị phê phán. Các cách phân biệt phải dựa trên từ ngữ, hình ảnh, ngữ cảnh và thái độ của người viết. Khi phân tích một bài thơ, cần nêu bằng chứng rồi mới gọi tên giọng điệu. Một tác phẩm cũng có thể phối hợp nhiều sắc thái; không nên dùng bảng phân loại như những ngăn kín tuyệt đối.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 8Mức 3Tự luận

    Với ngữ liệu sau, phân biệt một điều được kể/nêu trực tiếp và một điều em suy luận. Giải thích căn cứ.

    Tóm lược Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng (Trần Thị Hoa Lê — nghị luận văn học.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Văn bản giúp người đọc phân biệt những sắc thái của tiếng cười trào phúng, không xem mọi tiếng cười đều giống nhau. Hài hước có thể nhẹ nhàng, thân thiện; mỉa mai thường dùng lời có vẻ khen hoặc bình thản để lộ điều trái ngược; đả kích có sức công phá mạnh với đối tượng bị phê phán. Các cách phân biệt phải dựa trên từ ngữ, hình ảnh, ngữ cảnh và thái độ của người viết. Khi phân tích một bài thơ, cần nêu bằng chứng rồi mới gọi tên giọng điệu. Một tác phẩm cũng có thể phối hợp nhiều sắc thái; không nên dùng bảng phân loại như những ngăn kín tuyệt đối.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 9Mức 3Tự luận

    Đọc và sửa nhận xét thiếu căn cứ: “Không cần xem ngữ cảnh, chi tiết nào cũng có cùng tác dụng.”

    Tóm lược Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng (Trần Thị Hoa Lê — nghị luận văn học.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Văn bản giúp người đọc phân biệt những sắc thái của tiếng cười trào phúng, không xem mọi tiếng cười đều giống nhau. Hài hước có thể nhẹ nhàng, thân thiện; mỉa mai thường dùng lời có vẻ khen hoặc bình thản để lộ điều trái ngược; đả kích có sức công phá mạnh với đối tượng bị phê phán. Các cách phân biệt phải dựa trên từ ngữ, hình ảnh, ngữ cảnh và thái độ của người viết. Khi phân tích một bài thơ, cần nêu bằng chứng rồi mới gọi tên giọng điệu. Một tác phẩm cũng có thể phối hợp nhiều sắc thái; không nên dùng bảng phân loại như những ngăn kín tuyệt đối.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  10. Câu 10Mức 3Tự luận

    So sánh cách dùng chi tiết của hai ngữ liệu sau: nêu một điểm chung, một khác biệt có căn cứ.

    Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu: Tóm lược Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương — thơ trào phúng; thất ngôn bát cú.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Bài thơ quan sát một khoa thi trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Cảnh sĩ tử và quan trường được miêu tả bằng nét nhếch nhác, ồn ào, trái với vẻ trang nghiêm mà một kì thi chọn người tài đáng lẽ phải có. Sự xuất hiện của quyền lực ngoại bang làm nổi bật tình thế mất chủ quyền văn hóa và chính trị. Tiếng cười không dừng ở chê vài dáng người; xen trong giọng châm biếm là nỗi đau trước sự đảo lộn giá trị. Cuối bài, lời hướng tới người có trách nhiệm làm câu chuyện vượt khỏi một cảnh thi riêng. Khi đọc, tránh coi hình thức trào phúng là sự chế giễu ngoại hình vô cớ; đối tượng chính là tình trạng xã hội được phơi bày.

    Lai Tân: Tóm lược Lai Tân (Hồ Chí Minh — tứ tuyệt trào phúng.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Trong Lai Tân, Hồ Chí Minh kể chuyện ban trưởng nhà lao đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền của người bị giải và huyện trưởng chong đèn làm việc. Hai hành vi đầu trực tiếp phơi sai trái; riêng hình ảnh huyện trưởng cần đọc trong toàn bài, không tự thêm rằng ông ta hút thuốc phiện hoặc chắc chắn làm một việc cụ thể không được nêu. Câu kết nói địa phương vẫn có vẻ yên ổn, trái với thực trạng đã phơi ra. Giọng kể ngắn, bình thản làm bật sự mỉa mai: những điều trái phép bị coi như chuyện thường ngày trong bộ máy. Vì vậy, phải đọc lời kết trong quan hệ với các câu trước, không tách thành lời ca ngợi việc cai trị.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  11. Câu 11Mức 4Tự luận

    Từ hai ngữ liệu, đề xuất một vấn đề đáng thảo luận trong đời sống; không đồng nhất nhân vật với mọi người.

    Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu: Tóm lược Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương — thơ trào phúng; thất ngôn bát cú.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Bài thơ quan sát một khoa thi trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Cảnh sĩ tử và quan trường được miêu tả bằng nét nhếch nhác, ồn ào, trái với vẻ trang nghiêm mà một kì thi chọn người tài đáng lẽ phải có. Sự xuất hiện của quyền lực ngoại bang làm nổi bật tình thế mất chủ quyền văn hóa và chính trị. Tiếng cười không dừng ở chê vài dáng người; xen trong giọng châm biếm là nỗi đau trước sự đảo lộn giá trị. Cuối bài, lời hướng tới người có trách nhiệm làm câu chuyện vượt khỏi một cảnh thi riêng. Khi đọc, tránh coi hình thức trào phúng là sự chế giễu ngoại hình vô cớ; đối tượng chính là tình trạng xã hội được phơi bày.

    Lai Tân: Tóm lược Lai Tân (Hồ Chí Minh — tứ tuyệt trào phúng.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Trong Lai Tân, Hồ Chí Minh kể chuyện ban trưởng nhà lao đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền của người bị giải và huyện trưởng chong đèn làm việc. Hai hành vi đầu trực tiếp phơi sai trái; riêng hình ảnh huyện trưởng cần đọc trong toàn bài, không tự thêm rằng ông ta hút thuốc phiện hoặc chắc chắn làm một việc cụ thể không được nêu. Câu kết nói địa phương vẫn có vẻ yên ổn, trái với thực trạng đã phơi ra. Giọng kể ngắn, bình thản làm bật sự mỉa mai: những điều trái phép bị coi như chuyện thường ngày trong bộ máy. Vì vậy, phải đọc lời kết trong quan hệ với các câu trước, không tách thành lời ca ngợi việc cai trị.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  12. Câu 12Mức 3Tự luận

    Viết đoạn 8–10 câu tổng hợp điều học được về cách đọc; đưa ít nhất hai chi tiết trong ngữ liệu sau.

    Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu: Tóm lược Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương — thơ trào phúng; thất ngôn bát cú.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Bài thơ quan sát một khoa thi trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Cảnh sĩ tử và quan trường được miêu tả bằng nét nhếch nhác, ồn ào, trái với vẻ trang nghiêm mà một kì thi chọn người tài đáng lẽ phải có. Sự xuất hiện của quyền lực ngoại bang làm nổi bật tình thế mất chủ quyền văn hóa và chính trị. Tiếng cười không dừng ở chê vài dáng người; xen trong giọng châm biếm là nỗi đau trước sự đảo lộn giá trị. Cuối bài, lời hướng tới người có trách nhiệm làm câu chuyện vượt khỏi một cảnh thi riêng. Khi đọc, tránh coi hình thức trào phúng là sự chế giễu ngoại hình vô cớ; đối tượng chính là tình trạng xã hội được phơi bày.

    Lai Tân: Tóm lược Lai Tân (Hồ Chí Minh — tứ tuyệt trào phúng.)

    Bản tóm lược nguyên gốc: Trong Lai Tân, Hồ Chí Minh kể chuyện ban trưởng nhà lao đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền của người bị giải và huyện trưởng chong đèn làm việc. Hai hành vi đầu trực tiếp phơi sai trái; riêng hình ảnh huyện trưởng cần đọc trong toàn bài, không tự thêm rằng ông ta hút thuốc phiện hoặc chắc chắn làm một việc cụ thể không được nêu. Câu kết nói địa phương vẫn có vẻ yên ổn, trái với thực trạng đã phơi ra. Giọng kể ngắn, bình thản làm bật sự mỉa mai: những điều trái phép bị coi như chuyện thường ngày trong bộ máy. Vì vậy, phải đọc lời kết trong quan hệ với các câu trước, không tách thành lời ca ngợi việc cai trị.

    0 từ

    0/10 ảnh

    Có thể chụp nhiều trang. Ảnh được lưu cùng bài làm và giáo viên sẽ chấm trên ảnh.

    Vẽ bài làm

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay