Hồ sơ học tập nguyên gốc — Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn 1951 – 1954
Phát triển kháng chiến toàn diện
Đại hội II của Đảng năm 1951 củng cố đường lối và tổ chức lãnh đạo; Đảng ra hoạt động công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam. Mặt trận, chính quyền, sản xuất, giáo dục và hậu cần được tăng cường. Thành tựu hậu phương hỗ trợ chiến trường; huy động cần gắn bảo đảm đời sống và sức dân. Không chỉ kể trận đánh mà bỏ đóng góp kinh tế, văn hoá, ngoại giao của cuộc kháng chiến.
Đông - Xuân 1953–1954 và Điện Biên Phủ
Pháp - Mỹ triển khai kế hoạch Na-va nhằm giành thắng lợi quyết định. Quân đội Việt Nam tiến công các hướng quan trọng, buộc địch phân tán lực lượng; Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm lớn. Chiến dịch từ 13-3 đến 7-5-1954 gồm ba đợt: đánh cứ điểm phía bắc; tiến công các cao điểm phía đông và siết vây; tổng công kích chiếm sở chỉ huy. Thắng lợi gắn thay đổi phương châm phù hợp, hậu cần nhân dân và phối hợp chiến trường.
Giơ-ne-vơ, ý nghĩa và giới hạn
Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7-1954 quy định các bên tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ các nước Đông Dương, đình chỉ chiến sự và tập kết lực lượng. Vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam, không phải biên giới quốc gia lâu dài. Chiến thắng quân sự tạo cơ sở cho ngoại giao; kết quả chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp nhưng nhiệm vụ thống nhất Việt Nam chưa hoàn tất.
Tổ chức, sản xuất và văn hoá của hậu phương
Tháng 3-1951, hợp nhất Việt Minh và Hội Liên Việt tạo Mặt trận Liên Việt, tăng tập hợp lực lượng. Đại hội thi đua toàn quốc 1952 biểu dương đóng góp sản xuất và chiến đấu. Tiết kiệm, sản xuất, công nghiệp quốc phòng và viện trợ quốc tế bổ sung hậu cần; giảm tô, cải cách ruộng đất từ 1953 có mục tiêu bồi dưỡng sức dân, đồng thời quá trình thực hiện có sai lầm cần phân biệt và đánh giá bằng nguồn. Giáo dục tiếp tục cải cách, đào tạo cán bộ; văn học, nghệ thuật phản ánh, động viên kháng chiến. Các chiến dịch Hoà Bình 1951–1952, Tây Bắc 1952, Thượng Lào 1953 góp giữ thế chủ động trước Đông-Xuân 1953–1954. Sức mạnh Điện Biên Phủ gắn lãnh đạo, chiến đấu, hậu cần nhân dân, hậu phương và phối hợp, không chỉ một biện pháp quân sự.