Hồ sơ học tập nguyên gốc — Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn 1946 – 1950
Bùng nổ và đường lối
Pháp mở rộng xâm lược, các cuộc đàm phán không ngăn được nguy cơ chiến tranh; cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19-12-1946. Đường lối toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ ủng hộ quốc tế xuất phát từ tương quan lực lượng, mục tiêu độc lập. Toàn diện gồm quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao; tự lực không có nghĩa từ chối giúp đỡ.
Đô thị và Việt Bắc 1947
Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 từ cuối 1946 nhằm giam chân địch, tạo điều kiện cơ quan lãnh đạo, lực lượng và nhân dân rút về căn cứ chuẩn bị lâu dài. Thu - đông 1947, Pháp tấn công Việt Bắc với ý đồ tiêu diệt cơ quan đầu não, phá căn cứ, kết thúc chiến tranh nhanh. Quân dân Việt Nam đánh trả trên nhiều hướng, bảo vệ căn cứ, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh. Phân biệt mục tiêu giam chân ở đô thị với chủ động tiêu diệt toàn bộ địch ngay từ đầu.
Biên giới 1950 và xây dựng hậu phương
Trong hoàn cảnh quốc tế có thuận lợi mới và nhu cầu mở thông liên lạc, Việt Nam chủ động mở chiến dịch Biên giới thu - đông 1950. Đông Khê bị tiến công, quân Pháp trên đường số 4 bị đánh bại; tuyến biên giới được khai thông, căn cứ mở rộng, thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ được nâng lên. Hậu phương phát triển sản xuất, giáo dục, chính quyền, góp sức cho tiền tuyến. Các chiến dịch gắn hậu cần và chính trị chứ không chỉ tác chiến.
Diễn biến trên các hướng và các mặt trận khác
Cuối 1946–đầu 1947, chiến đấu ở Hà Nội tại Bắc Bộ Phủ, Bưu điện Bờ Hồ, ga Hàng Cỏ cùng các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 làm tiêu hao, giam chân địch để lực lượng rút an toàn. Tại Việt Bắc 1947, phía đông có phục kích trên đường số 4, khu Bản Sao–Bông Lau; phía tây có các trận trên sông Lô, Đoan Hùng, Khe Lau. Biên giới 1950 mở bằng tiến công Đông Khê, sau đó đánh quân Pháp trên đường số 4, mở thông liên lạc quốc tế. Về chính trị, bộ máy chính quyền được củng cố sau chuyển lên căn cứ. Đầu 1950, Trung Quốc, Liên Xô và một số nước công nhận, đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tăng gia, xí nghiệp quốc phòng và dân dụng ở vùng tự do tạo nguồn lực. Hội nghị Văn hoá 1948, Bình dân học vụ và cải cách giáo dục 1950 bồi dưỡng lực lượng. Các mặt trận hỗ trợ nhau, không chỉ có thắng lợi tác chiến.