Hồ sơ học tập nguyên gốc — Dân tộc và dân số
Dân tộc và phân bố
Việt Nam có 54 dân tộc; người Kinh phân bố rộng, tập trung ở đồng bằng, ven biển; nhiều dân tộc thiểu số cư trú ở miền núi, cao nguyên nhưng các cộng đồng ngày càng đan xen. Người Việt ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Không đồng nhất dân tộc với một tỉnh, một nghề hay đặc điểm tính cách; số dân không quyết định giá trị văn hoá.
Quy mô và gia tăng qua thời kì
Dữ liệu trong SGK hiện hành, nguồn Cục Thống kê 2025: dân số (triệu người) năm 1999 là 76,5; 2009 là 86,0; 2019 là 96,5; 2024 là 101,3. Tỉ lệ tăng dân số tương ứng 1,51%; 1,06%; 1,15%; 1,03%. Quy mô liên tục tăng nhưng tỉ lệ tăng không giảm đều từng mốc. Mức tăng 1999–2024 là 101,3−76,5=24,8 triệu người. Không gọi số liệu 2024 là dân số chính xác năm đang học.
Cơ cấu tuổi và giới
Năm 2024 theo bảng SGK: dưới 15 tuổi 23,3%; 15–64 tuổi 67,4%; từ 65 tuổi 9,3%. So với 1999, tỉ trọng trẻ em giảm, người cao tuổi tăng: dân số già hoá nhưng còn lợi thế lực lượng trong tuổi lao động. Tỉ số giới tính toàn dân 99,6 nam/100 nữ khác tỉ số khi sinh 111,4 bé trai/100 bé gái. Hai chỉ tiêu khác mẫu, không hoán đổi. Dân số vàng cần giáo dục, việc làm và sức khoẻ để trở thành lợi thế.