Cá rô phi lồng: hồ sơ chuẩn bị kiểm tra vị trí, lưu thông nước, sức tải và lồng/neo; hồ sơ giống cần nguồn rõ và cỡ phù hợp; chăm sóc theo dõi ăn, nước và sức khoẻ, vệ sinh lồng theo cơ sở; thu hoạch gắn cỡ mục tiêu, chất lượng và vận chuyển có điều kiện phù hợp. Không coi tổng công suất máy sục hoặc một số DO đơn lẻ là đủ để tăng số cá.
Tôm thẻ chân trắng trong ví dụ sách được chia ba giai đoạn với ba ao/khâu chuyển tiếp. Ở giai đoạn đầu con nhỏ được ương trong hệ kiểm soát cao; khi tăng cỡ, chuyển giai đoạn và giảm mật độ theo thiết kế để phù hợp sinh khối, tải thức ăn và nước. Không nhầm cùng số con với cùng sinh khối, không chọn mật độ cao chỉ vì diện tích nhỏ. Hồ sơ cần cỡ giống, điều kiện chuyển, thức ăn theo cỡ, theo dõi chất thải/nước và lịch thu; mọi vận hành, khử trùng, thuốc và thao tác động vật do cơ sở đủ điều kiện, không thực hành học sinh.
Ngao Bến Tre ngoài bãi triều: chọn bãi theo chất đáy, dòng triều, thời gian phơi bãi, độ mặn và nguy cơ ô nhiễm; giống đồng đều, vỏ không dập, nguồn rõ. Ngao ăn lọc sinh vật phù du/mùn bã thích hợp trong nước, không dùng khẩu phần viên như cá/tôm; vẫn cần quản lí mật độ, lưới vây, rác, địch hại và nước, không phải “không cho ăn là không cần quản lí”. Thu hoạch xét cỡ và điều kiện triều, chỉ người có năng lực thực hiện; học sinh không đi bãi triều hoặc xuống nước. Mở rộng so sánh: tôm sú và tôm càng xanh không nhận nguyên bộ thông số tôm thẻ; tôm càng xanh trưởng thành gắn nước ngọt nhưng yêu cầu ấu trùng có thể cần nước lợ.