Chọn một chiều phân hóa và câu hỏi: vì sao hai sườn một dãy núi có mùa mưa khác, hoặc vì sao vùng núi cao có cây cận nhiệt. Chuẩn bị bản đồ địa hình, khí hậu và nguồn mô tả đáng tin; ghi trạm, thời kì nếu dùng số. Báo cáo cần mở vấn đề, chứng cứ, cơ chế, tác động và giới hạn. Tránh ghép hai trạm khác giai đoạn chuẩn rồi xem mọi chênh lệch là do vị trí.
Mẫu báo cáo hoàn chỉnh: “Phân hóa theo cao độ làm khí hậu núi cao mát hơn nền đồng bằng; trong cùng khu vực, biến đổi nhiệt và ẩm tạo điều kiện cho thảm thực vật khác. Điều đó hỗ trợ đa dạng cây trồng và du lịch, nhưng địa hình dốc đặt yêu cầu chống xói mòn. Hướng sườn và gió làm khác biệt nên không dùng độ cao như nhân tố duy nhất.” Bảng mô hình để tập tính: chân núi 26°C, điểm cao 24°C, đỉnh 20°C; đây không phải quan trắc thực. Khi công bố phải tách dữ liệu mô hình với bằng chứng thật.
Vấn đề: độ cao góp phần tạo khác biệt khí hậu, đất và sinh vật ở Việt Nam, nhưng không phải nhân tố duy nhất. Nguồn sử dụng là phần đai cao trong bản Địa lí 12 chỉnh lí 2026, trang 20; báo cáo này tổng hợp tài liệu, không nhận là đo đạc thực địa. Biểu hiện: giới hạn trên đai nhiệt đới ở miền Bắc thấp hơn miền Nam; trên đó là đai cận nhiệt, rồi đai ôn đới ở phần núi từ khoảng 2600 m thuộc Hoàng Liên Sơn. Cùng với nhiệt giảm khi lên cao, quá trình tích lũy mùn và thành phần sinh vật thay đổi. Nguyên nhân là chế độ nhiệt–ẩm theo cao độ kết hợp nền khí hậu theo vĩ độ, hướng sườn và gió. Ý nghĩa: phân hóa tạo điều kiện đa dạng cây trồng, du lịch và sinh kế, đồng thời đất dốc cần lớp phủ chống xói mòn. Giới hạn: các ngưỡng đai là khái quát, chưa thay dữ liệu khí hậu, đất và thị trường để quyết định một cây trồng tại một địa điểm. Bảng 26–24–20°C trong bài chỉ minh họa phép so sánh 6°C, không là chứng cứ đo tại Hoàng Liên Sơn.