Phần trâu bò trong bản in là bánh dinh dưỡng/đá liếm, không phải khẩu phần hoàn chỉnh. Bảng in chia đầu vào khô thành nhóm kết dính (có xi măng trắng và đất sét), nhóm muối calcium và nhóm muối khác; các khâu gồm chuẩn bị riêng các nhóm, phối hợp nhóm, bổ sung nước, tạo hình, làm khô và đánh giá. Việc sách nêu tên vật liệu không chứng minh mọi sản phẩm xây dựng/hóa chất cùng tên đạt cấp thức ăn hoặc phù hợp đối tượng. Không tự phối, chạm hóa chất, làm mẫu hoặc cho ăn. Mục tiêu học là nhận diện vai trò nhóm, yêu cầu chứng từ và kiểm tra cân bằng khối lượng.
Ví dụ phân tích bảng in, KHÔNG thực hiện: ba nhóm khô có khối lượng 150, 600 và 250 g, tổng 1000 g. Thêm 150 mL nước, giả sử ρ nước=1 g/mL và chưa hao hụt, khối lượng trước làm khô là 1150 g; không được viết đã thu được đúng 1000 g thành phẩm vì chưa có số đo nước thoát và hao hụt. Tình trạng nguyên liệu hợp lệ vẫn phải được xác minh, không suy từ phép cộng.
Phần gia cầm/chim cảnh trong bản in dùng sỏi và nguồn bột vỏ trứng, vỏ sò/vỏ phù hợp. Bốn khâu chức năng là chuẩn bị/làm sạch → xử lí nguyên liệu theo quy trình chuyên môn → nghiền và bảo quản → phối trộn theo công thức đối tượng. Sỏi hỗ trợ nghiền ở một số loài, không đồng nghĩa bột vỏ và không cung cấp thay mọi khoáng. Bảng tỉ lệ in 80% sỏi, 10% bột vỏ trứng, 10% bột vỏ sò chỉ là ví dụ để đọc, không áp dụng cho mọi chim. Bài toán giấy 500 g theo bảng cho 400, 50 và 50 g, cộng 500 g; chưa là kết luận an toàn hay quyết định cho ăn. Nhiệt, nghiền, bụi và vật liệu thật do người được đào tạo quản lí; bài học không cung cấp thao tác nung hay kiểm tra bằng ăn thử.