Liên hệ các nội dung của chương
Bản vẽ kĩ thuật truyền thông tin hình dạng, kích thước, yêu cầu để thiết kế/chế tạo/kiểm. Dùng khổ giấy, tỉ lệ, nét, chữ và ghi kích thước thống nhất. A4 là 297 ×210 mm; tỉ lệ là độ dài hình chia độ dài thật. Nét liền đậm biểu diễn cạnh thấy, đứt mảnh cạnh khuất, gạch dài–chấm–mảnh đường tâm. Trị số kích thước luôn là kích thước thật trong đơn vị quy định, không nhân theo tỉ lệ hình.
Hình chiếu vuông góc được tạo bởi tia chiếu vuông góc mặt phẳng. Trong phương pháp góc thứ nhất, vật nằm giữa người quan sát và mặt phẳng chiếu; sau trải mặt phẳng, hình bằng ở dưới hình đứng, hình cạnh nhìn từ trái ở bên phải hình đứng. Ba hình giữ liên hệ: đứng/bằng chung dài, đứng/cạnh chung cao, bằng/cạnh chung rộng. Chọn hướng đứng bộc lộ đặc trưng, không suy chiều sâu chỉ từ một hình.
Tưởng tượng mặt phẳng cắt qua vật, bỏ phần giữa người nhìn với mặt phẳng; hình cắt thể hiện cả phần nằm trên mặt phẳng và phần còn thấy phía sau; mặt cắt chỉ thể hiện tiết diện ngay tại mặt phẳng. Phần vật liệu bị cắt gạch bằng nét mảnh nghiêng phù hợp, còn lỗ rỗng không gạch như vật liệu. Có hình cắt toàn bộ, một nửa, cục bộ; mặt cắt rời/chập theo nhu cầu. Không được thay rãnh rỗng bằng vùng gạch chỉ vì nằm trong đường bao.
Hình chiếu trục đo dùng phép chiếu song song biểu diễn ba chiều gắn với các trục X′, Y′, Z′. Hệ số biến dạng p, q, r lần lượt là độ dài hình chia độ dài thật theo x, y, z. Với trục đo vuông góc đều, ba góc giữa các trục đều 120°; khi dựng theo quy ước đơn giản của bài lấy p=q=r=1. Với trục đo xiên góc cân, X′O′Z′=90°, X′O′Y′=Y′O′Z′=135°, p=r=1 và q=0,5: mặt xOz giữ hình dạng, còn chiều theo y thu một nửa. Không trộn hai hệ trục trên cùng vật; kích thước ghi vẫn là kích thước thật. Trong xiên góc cân, đường tròn thuộc mặt song song xOz vẫn là đường tròn, thuộc mặt song song xOy hoặc yOz thành elip. Trong vuông góc đều, các đường tròn thuộc mặt song song mặt phẳng tọa độ thành elip, không vẽ mọi mặt thành hình tròn.
Phối cảnh dùng phép chiếu xuyên tâm gần cách mắt nhìn, cho cảm giác chiều sâu. Các đường song song theo hướng rời xa có thể hội tụ về điểm tụ; đường chân trời liên quan độ cao tầm nhìn. Phối cảnh một điểm tụ thường có mặt chính song song mặt tranh; hai điểm tụ cho hai hướng ngang xiên hội tụ. Không phải mọi đường đều chạy về cùng một điểm trong mọi kiểu; đường thẳng đứng có quy tắc phụ thuộc cách đặt nhìn.
Ren là bề mặt xoắn dùng liên kết hoặc truyền chuyển động. Phân biệt ren ngoài trên trục và ren trong ở lỗ; quy ước nét giúp không phải vẽ mọi vòng xoắn. Trong biểu diễn thấy, đường đỉnh ren dùng nét liền đậm, đường chân ren nét liền mảnh; hình nhìn dọc trục có vòng mảnh không kín theo quy ước. Kí hiệu M mô tả ren hệ mét; thông tin đường kính, bước/chiều dài phải theo quy cách, không suy mọi renM10 đều có bước bất kì.
Bản vẽ chi tiết chứa hình biểu diễn, kích thước, yêu cầu kĩ thuật và khung tên để chế tạo/kiểm một chi tiết. Bản vẽ lắp thể hiện vị trí, tương quan và cách ghép nhiều chi tiết, có số chỉ dẫn và bảng kê; không thay toàn bộ bản chi tiết để chế tạo mọi phần. Đọc theo trình tự khung tên, hình, kích thước, yêu cầu rồi tổng hợp; bảng kê giúp đối chiếu số lượng nhưng không tự nói vật liệu mọi phần nếu chưa ghi.
Bản vẽ nhà thường có mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt và thông tin kích thước/cấu tạo. Mặt bằng là hình cắt ngang theo quy ước thể hiện bố trí phòng, cửa, lối đi và thiết bị; mặt đứng cho dáng bên ngoài; mặt cắt cho cấu tạo/chiều cao bên trong. Kí hiệu và tỉ lệ phải đọc theo hồ sơ, không lấy đồ trang trí trong phối cảnh làm kích thước thi công. Đơn vị, kích thước thông thủy và ngoài tường cần phân biệt.
CAD hỗ trợ tạo và sửa bản vẽ chính xác với đơn vị, lớp, nét, kích thước và tệp được quản lí. Phần mềm không tự xác nhận thiết kế đúng; người vẽ phải chọn quy ước, đọc tọa độ và kiểm đầu ra. Các thao tác cơ bản gồm đoạn thẳng, đường tròn, xén/sao chép/đối xứng và ghi kích thước theo công cụ tương ứng. Đơn vị mô hình khác tỉ lệ in; vẽ đúng kích thước thật rồi đặt xuất bản/tỉ lệ phù hợp.