Hồ sơ nguyên mẫu lọc cặn trọng lực, không tạo nước uống: tiêu chí thu 200 mL trong không quá 4 phút, giảm cặn nhìn thấy, không rò/đổ và không cạnh sắc. Vật tư mẫu: bình/phễu khoảng 500 mL với giá đỡ do giáo viên chuẩn bị an toàn; cốc chia độ chứa ít nhất 300 mL mượn từ trường; vải sạch khoảng 10×10 cm, cát sạch đã rửa 150 g, sỏi sạch đã rửa 80 g; khay hứng. Đây là thiết kế mẫu để thử, không công thức làm nước uống. Phương án A chỉ vải: dự đoán đơn giản/ít cản dòng nhưng khả năng giữ hạt cần thử. Phương án B từ đáy lên vải–cát–sỏi: dự đoán giữ nhiều cỡ cặn nhưng có thể giảm lưu lượng; chọn B làm nguyên mẫu và ghi cả A bị loại tạm, không gọi dự đoán là kết quả. Giáo viên chuẩn bị mọi miệng/cạnh, kiểm giá đỡ; học sinh xếp vật liệu đã sạch theo giám sát, đặt cốc trên khay, nạp từ từ 300 mL nước sạch pha ít đất sạch do giáo viên chuẩn bị, bấm giờ và ghi thể tích/độ rò/cặn nhìn thấy theo cách so cùng điều kiện. Không dùng nước ô nhiễm thật, không áp lực, không thêm hóa chất, không uống/nếm. Dự toán GIẢ: bình/giá 20000 đ, vật liệu 15000 đ, khay 5000 đ; cốc mượn 0 đ, tổng 40000 đ. Nhật kí thử GIẢ của B: lần 1 thu 200 mL/5 phút=40 mL/phút, chưa đạt tốc độ; lần 2 sau điều chỉnh cách xếp theo giáo viên thu 200 mL/4 phút=50 mL/phút, đạt riêng tốc độ. Chưa có số đo rò/cặn thì chưa kết luận hai tiêu chí đó, không suy nước an toàn uống từ độ trong. Báo cáo mẫu hoàn thành gồm nhu cầu, nguồn, tiêu chí, A/B và lí do, sơ đồ vải–cát–sỏi, bảng vật tư/tiền, hai dòng nhật kí GIẢ và giới hạn; khi làm thật lưu dữ liệu riêng, chưa thử ghi chưa thử.