Lịch sử 12
Lịch sửLớp 12Chủ đề 3. Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử Việt Nam (từ tháng 8 năm 1945 đến nay)

Bài 7. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)

Mục tiêu bài học

  • Khái quát các bước phát triển của kháng chiến chống Pháp từ Nam Bộ năm 1945 đến Giơ-ne-vơ năm 1954.
  • Phân tích quan hệ hậu phương – chiến trường – ngoại giao và tính tạm thời của giới tuyến quân sự.

Bài giảng

Từ Nam Bộ kháng chiến đến toàn quốc

Sau độc lập 1945, chính quyền non trẻ đối mặt nạn đói, mù chữ, khó khăn tài chính và nhiều lực lượng nước ngoài. Ngày 23–9–1945, Pháp nổ súng xâm lược trở lại Nam Bộ; nhân dân kháng chiến, cả nước chi viện. Năm 1946, Việt Nam vừa xây dựng chế độ mới qua Tổng tuyển cử 6–1, Hiến pháp, vừa tìm giải pháp hoà bình. Hiệp định Sơ bộ 6–3 và Tạm ước 14–9 nhằm tránh bất lợi, tranh thủ thời gian, không phải từ bỏ độc lập.

Pháp tiếp tục leo thang, gửi tối hậu thư ở Hà Nội. Ngày 19–12–1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đường lối toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh, tranh thủ ủng hộ quốc tế kết hợp quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao. Cuộc chiến đấu đô thị cuối 1946–đầu 1947 giam chân đối phương, bảo vệ việc chuyển cơ quan và lực lượng ra căn cứ, không đặt mục tiêu giữ mọi đường phố bằng mọi giá.

Những bước phát triển 1947–1953

Việt Bắc thu–đông 1947 là chiến dịch phản công lớn, bảo vệ cơ quan đầu não và đánh bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh. Biên giới thu–đông 1950 là chiến dịch tiến công lớn: đánh Đông Khê, phá thế bao vây, mở liên lạc quốc tế và giành chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Không suy chữ “chủ động” thành chiến tranh đã kết thúc hoặc mọi chiến trường đều giống nhau.

Đại hội II của Đảng tháng 2–1951 quyết định hoạt động công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam, bổ sung đường lối. Mặt trận Liên Việt củng cố đoàn kết; hậu phương phát triển sản xuất, tiết kiệm, giáo dục, y tế và thi đua. Các chiến dịch Hoà Bình 1951–1952, Tây Bắc 1952, Thượng Lào 1953 tiếp tục tạo thế. Đấu tranh không chỉ các trận đánh; hậu cần, dân công, chính quyền và văn hoá đều góp phần.

Đông–Xuân 1953–1954, Điện Biên Phủ và kết quả

Pháp đề ra Kế hoạch Na-va năm 1953 để giành thắng lợi quân sự quyết định. Các hướng tiến công Đông–Xuân 1953–1954 buộc đối phương phân tán lực lượng. Chiến dịch Điện Biên Phủ từ 13–3 đến 7–5–1954 trải qua ba đợt, kết thúc bằng việc tiêu diệt, bắt lực lượng tại tập đoàn cứ điểm. Sức mạnh đến từ chỉ huy, thay đổi cách đánh phù hợp, hậu cần nhân dân và phối hợp chiến trường, không chỉ một loại vũ khí.

Các văn kiện Giơ-ne-vơ tháng 7–1954 ghi nhận những nguyên tắc về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ ở Đông Dương và đình chiến. Việt Nam tạm thời phân hai vùng tập kết quân sự, không phải chia thành hai quốc gia hợp pháp vĩnh viễn. Thắng lợi gắn lãnh đạo, đoàn kết, hậu phương, liên minh Việt–Lào–Cam-pu-chia và giúp đỡ quốc tế. Miền Bắc được giải phóng; nhiệm vụ thống nhất đất nước còn tiếp tục. Không quy kết quả chỉ do quân sự hoặc chỉ do bàn đàm phán.

Ba đợt Điện Biên Phủ cần đặt trong tiến trình: 13–17–3 tiến công các cứ điểm phía bắc như Him Lam, Độc Lập; 30–3–26–4 tiến công các cao điểm phía đông và siết vòng vây; 1–7–5 tổng công kích, kết thúc chiến dịch. Những khoảng giữa các đợt vẫn có hoạt động củng cố, vận tải, chiến đấu, không phải toàn chiến trường ngừng hoạt động. Sự chuyển sang cách đánh chắc, tổ chức công sự và bảo đảm tiếp tế giúp duy trì chiến dịch dài ngày.

Kết nối với văn học: kí ức Điện Biên Phủ

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu là tác phẩm được giới thiệu trong phần kết nối văn học ở bài in. Bài thơ hướng sự chú ý tới người chiến đấu, gian khổ và sức bền của tập thể, giúp người đọc nhận ra chiều kích con người phía sau niên biểu chiến dịch. Ngôn ngữ biểu cảm và nhịp điệu cổ vũ không phải bảng thống kê tổn thất hoặc biên bản chỉ huy. Phân tích giá trị tưởng nhớ phải phân biệt với việc kiểm chứng ngày, địa điểm và lực lượng.

Có thể đặt tác phẩm bên thông tin về dân công, vận tải và xe đạp thồ phục vụ chiến dịch để nhận ra quan hệ giữa tiền tuyến với hậu phương. Tuy vậy, khi xác định ba đợt chiến dịch vẫn phải dùng niên biểu, hồ sơ và lược đồ; không lấy một hình ảnh thơ để suy quy mô tiếp tế hay số người tham gia. Phần phân tích này được viết mới và không chép câu thơ.

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Vì sao rút khỏi đô thị đầu 1947 không tự là thất bại của mục tiêu chiến lược?

    Xem lời giải

    Mục tiêu là giam chân đối phương, bảo toàn lực lượng và tạo thời gian chuyển sang kháng chiến lâu dài. Đánh giá phải theo mục tiêu ấy, không chỉ việc giữ một địa điểm đến cuối.

  2. Ví dụ 2

    Có thể dùng riêng Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu thay niên biểu ba đợt chiến dịch và kết luận chính xác lượng tiếp tế không?

    Xem lời giải

    Không. Bài thơ giúp tìm hiểu tình cảm, hình tượng người chiến đấu và sự ghi nhớ chiến thắng. Niên biểu ba đợt 13–17–3, 30–3–26–4 và 1–7–5–1954 phải đối chiếu hồ sơ chiến dịch; muốn định lượng tiếp tế cần chứng cứ thống kê. Việc dân công dùng xe đạp thồ là một trường hợp hậu cần có tư liệu, nhưng không được tự đặt số lượng từ hình ảnh văn học.

Ghi nhớ

Kháng chiến 1945–1954 toàn dân, toàn diện;1947 phản công,1950 chủ động Bắc Bộ,1954 Điện Biên Phủ và Giơ-ne-vơ; giới tuyến quân sự tạm thời không là biên giới vĩnh viễn.

Ứng dụng

  • Làm bảng chiến dịch ghi loại hình, mục tiêu, kết quả và giới hạn; thêm cột hậu phương, ngoại giao để tránh chỉ kể trận.

Dễ nhầm

  • Không gọi Biên giới 1950 là kết thúc chiến tranh.
  • Không đồng nhất hai vùng tập kết với hai quốc gia vĩnh viễn.

Bài tập

Đã đúng 0/6 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Hồ sơ học tập nguyên bản — đọc trước các nhiệm vụ. Các diễn giải, ví dụ và dữ liệu minh hoạ dưới đây được viết mới; không phải bản chép nguồn lịch sử hoặc lời thơ.

    Từ Nam Bộ kháng chiến đến toàn quốc

    Sau độc lập 1945, chính quyền non trẻ đối mặt nạn đói, mù chữ, khó khăn tài chính và nhiều lực lượng nước ngoài. Ngày 23–9–1945, Pháp nổ súng xâm lược trở lại Nam Bộ; nhân dân kháng chiến, cả nước chi viện. Năm 1946, Việt Nam vừa xây dựng chế độ mới qua Tổng tuyển cử 6–1, Hiến pháp, vừa tìm giải pháp hoà bình. Hiệp định Sơ bộ 6–3 và Tạm ước 14–9 nhằm tránh bất lợi, tranh thủ thời gian, không phải từ bỏ độc lập.

    Pháp tiếp tục leo thang, gửi tối hậu thư ở Hà Nội. Ngày 19–12–1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đường lối toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh, tranh thủ ủng hộ quốc tế kết hợp quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao. Cuộc chiến đấu đô thị cuối 1946–đầu 1947 giam chân đối phương, bảo vệ việc chuyển cơ quan và lực lượng ra căn cứ, không đặt mục tiêu giữ mọi đường phố bằng mọi giá.

    Những bước phát triển 1947–1953

    Việt Bắc thu–đông 1947 là chiến dịch phản công lớn, bảo vệ cơ quan đầu não và đánh bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh. Biên giới thu–đông 1950 là chiến dịch tiến công lớn: đánh Đông Khê, phá thế bao vây, mở liên lạc quốc tế và giành chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Không suy chữ “chủ động” thành chiến tranh đã kết thúc hoặc mọi chiến trường đều giống nhau.

    Đại hội II của Đảng tháng 2–1951 quyết định hoạt động công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam, bổ sung đường lối. Mặt trận Liên Việt củng cố đoàn kết; hậu phương phát triển sản xuất, tiết kiệm, giáo dục, y tế và thi đua. Các chiến dịch Hoà Bình 1951–1952, Tây Bắc 1952, Thượng Lào 1953 tiếp tục tạo thế. Đấu tranh không chỉ các trận đánh; hậu cần, dân công, chính quyền và văn hoá đều góp phần.

    Đông–Xuân 1953–1954, Điện Biên Phủ và kết quả

    Pháp đề ra Kế hoạch Na-va năm 1953 để giành thắng lợi quân sự quyết định. Các hướng tiến công Đông–Xuân 1953–1954 buộc đối phương phân tán lực lượng. Chiến dịch Điện Biên Phủ từ 13–3 đến 7–5–1954 trải qua ba đợt, kết thúc bằng việc tiêu diệt, bắt lực lượng tại tập đoàn cứ điểm. Sức mạnh đến từ chỉ huy, thay đổi cách đánh phù hợp, hậu cần nhân dân và phối hợp chiến trường, không chỉ một loại vũ khí.

    Các văn kiện Giơ-ne-vơ tháng 7–1954 ghi nhận những nguyên tắc về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ ở Đông Dương và đình chiến. Việt Nam tạm thời phân hai vùng tập kết quân sự, không phải chia thành hai quốc gia hợp pháp vĩnh viễn. Thắng lợi gắn lãnh đạo, đoàn kết, hậu phương, liên minh Việt–Lào–Cam-pu-chia và giúp đỡ quốc tế. Miền Bắc được giải phóng; nhiệm vụ thống nhất đất nước còn tiếp tục. Không quy kết quả chỉ do quân sự hoặc chỉ do bàn đàm phán.

    Ba đợt Điện Biên Phủ cần đặt trong tiến trình: 13–17–3 tiến công các cứ điểm phía bắc như Him Lam, Độc Lập; 30–3–26–4 tiến công các cao điểm phía đông và siết vòng vây; 1–7–5 tổng công kích, kết thúc chiến dịch. Những khoảng giữa các đợt vẫn có hoạt động củng cố, vận tải, chiến đấu, không phải toàn chiến trường ngừng hoạt động. Sự chuyển sang cách đánh chắc, tổ chức công sự và bảo đảm tiếp tế giúp duy trì chiến dịch dài ngày.

    Kết nối với văn học: kí ức Điện Biên Phủ

    Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu là tác phẩm được giới thiệu trong phần kết nối văn học ở bài in. Bài thơ hướng sự chú ý tới người chiến đấu, gian khổ và sức bền của tập thể, giúp người đọc nhận ra chiều kích con người phía sau niên biểu chiến dịch. Ngôn ngữ biểu cảm và nhịp điệu cổ vũ không phải bảng thống kê tổn thất hoặc biên bản chỉ huy. Phân tích giá trị tưởng nhớ phải phân biệt với việc kiểm chứng ngày, địa điểm và lực lượng.

    Có thể đặt tác phẩm bên thông tin về dân công, vận tải và xe đạp thồ phục vụ chiến dịch để nhận ra quan hệ giữa tiền tuyến với hậu phương. Tuy vậy, khi xác định ba đợt chiến dịch vẫn phải dùng niên biểu, hồ sơ và lược đồ; không lấy một hình ảnh thơ để suy quy mô tiếp tế hay số người tham gia. Phần phân tích này được viết mới và không chép câu thơ.

    Ví dụ đã giải

    Tình huống: Vì sao rút khỏi đô thị đầu 1947 không tự là thất bại của mục tiêu chiến lược?

    Lời giải: Mục tiêu là giam chân đối phương, bảo toàn lực lượng và tạo thời gian chuyển sang kháng chiến lâu dài. Đánh giá phải theo mục tiêu ấy, không chỉ việc giữ một địa điểm đến cuối.

    Tình huống: Có thể dùng riêng Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu thay niên biểu ba đợt chiến dịch và kết luận chính xác lượng tiếp tế không?

    Lời giải: Không. Bài thơ giúp tìm hiểu tình cảm, hình tượng người chiến đấu và sự ghi nhớ chiến thắng. Niên biểu ba đợt 13–17–3, 30–3–26–4 và 1–7–5–1954 phải đối chiếu hồ sơ chiến dịch; muốn định lượng tiếp tế cần chứng cứ thống kê. Việc dân công dùng xe đạp thồ là một trường hợp hậu cần có tư liệu, nhưng không được tự đặt số lượng từ hình ảnh văn học.

    Ghi nhớ: Kháng chiến 1945–1954 toàn dân, toàn diện;1947 phản công,1950 chủ động Bắc Bộ,1954 Điện Biên Phủ và Giơ-ne-vơ; giới tuyến quân sự tạm thời không là biên giới vĩnh viễn.

  2. Câu 1Mức 1Trắc nghiệm 1 đáp án

    Ngày 23–9–1945 đánh dấu điều gì?

  3. Câu 2Mức 2Trắc nghiệm 1 đáp án

    Ý nghĩa chủ yếu của Biên giới 1950 là gì?

  4. Câu 3Mức 2Nhiều đáp án

    Chọn các nội dung đường lối kháng chiến.

    Chọn tất cả đáp án đúng

  5. Câu 4Mức 3Đúng / Sai nhiều ý

    Đánh giá các mốc và kết quả.

    ÝĐúngSai
    a)Việt Bắc 1947 là chiến dịch phản công lớn
    b)Điện Biên Phủ kết thúc 7–5–1954
    c)Giới tuyến quân sự tạm thời là biên giới quốc gia vĩnh viễn
    d)Kết quả quân sự và ngoại giao có tác động qua lại
  6. Câu 5Mức 1Sắp xếp thứ tự

    Sắp xếp các sự kiện sau theo thời gian từ sớm đến muộn.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Biên giới 1950
    2. 2Toàn quốc kháng chiến 1946
    3. 3Việt Bắc 1947
    4. 4Điện Biên Phủ 1954
  7. Câu 6Mức 2Ghép nối

    Ghép sự kiện, chính sách hoặc khái niệm với đặc điểm phù hợp.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  8. Câu 7Mức 3Tự luận

    Giải thích quan hệ giữa hậu phương và thắng lợi Điện Biên Phủ bằng hai chi tiết.

    0 từ / tối đa 350

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 4Tự luận

    Sửa bản kết luận “Giơ-ne-vơ 1954 chia Việt Nam thành hai quốc gia vĩnh viễn” và nêu giới hạn thắng lợi 1954.

    0 từ / tối đa 350

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay