Liên hệ các nội dung của chương
Đất trồng là lớp vật chất cung cấp môi trường cho rễ, nước, dinh dưỡng và không khí. Thành phần có phần rắn khoáng/hữu cơ, nước và khí. Tính chất cần xét gồm thành phần cơ giới, độ chua, độ phì và khả năng giữ/thoát nước. Keo đất có kích thước nhỏ, bề mặt mang điện giúp hấp phụ/trao đổi ion; không hiểu đất là kho phân vô hạn. Độ phì là khả năng cung cấp điều kiện cần cho cây trong phạm vi, không chỉ màu sẫm.
Đất chua, đất mặn và đất bạc màu có nguyên nhân và biện pháp cải tạo khác nhau. Đất chua cần phân tích, cân đối phân và có thể dùng vật liệu cải tạo theo khuyến cáo; đất mặn liên quan muối hòa tan, cần nguồn nước/thoát nước và quy trình phù hợp; đất bạc màu cần tăng hữu cơ, che phủ, canh tác và dinh dưỡng cân đối. Bón vôi hay rửa mặn không áp cùng liều cho mọi nơi, không tự đổ hóa chất hoặc xả nước mặn ra môi trường.
Giá thể là vật liệu hoặc hỗn hợp tạo môi trường vùng rễ; có thể hữu cơ như xơ dừa đã xử lí, than bùn phù hợp nguồn, trấu xử lí, hoặc vô cơ như perlite, gốm. Cần giữ ẩm và thông khí phù hợp, ổn định, sạch nguồn và pH/EC thích hợp cây. Giá thể không đất không có nghĩa không cần dinh dưỡng hay không thể nhiễm bệnh. Vật liệu chưa xử lí có thể chứa muối, chất ảnh hưởng cây hoặc nguồn bệnh.
Bài có cả pHH₂O, pHKCl và EC đánh giá độ mặn; phải ghi mẫu, quy trình, đơn vị và nguồn ngưỡng. Phương pháp in: chuẩn bị mẫu đất đã xử lí theo hướng dẫn; pH dùng 20 g đất/50 mL nước cất hoặc dung dịchKCl 1 N, lắc 15–20 phút, đo khi ổn định; EC dùng 20 g/100 mL nước cất, lắc, lọc rồi đo. Các con số gắn phương pháp, không coi mọi phép đo EC quy đổi trực tiếp ra độ mặn ruộng. Hóa chất KCl và máy/chuẩn do giáo viên chuẩn bị, không pha thuốc tại nhà.