Các lược đồ là kiến thức về cơ sở sản xuất, không giao học sinh pha vôi, đốt, nung, nghiền bụi hoặc tự nuôi vi sinh. Than bùn nhẹ/xốp nhưng cần bổ sung dinh dưỡng: tập kết→phơi/nghiền→phối vôi/phụ gia/chế phẩm rồi ủ theo cơ sở→kiểm/đóng gói; chọn nguồn khai thác hợp pháp, không tự đào vùng bảo tồn. Mùn cưa cần xử lí cellulose, độ thoáng/ẩm có thể không đều: tập kết→phơi/đảo→ủ với chế phẩm phù hợp→kiểm/đóng. Trấu hun xốp, nghèo dinh dưỡng và có thể nóng dưới nắng: nhận trấu→cơ sở hun hạn chế oxy, làm nguội/loại tạp→phối chế phẩm→kiểm/đóng; không tổ chức đốt ở lớp. Xơ dừa giữ ẩm nhưng nguồn thô có tannin/lignin: thu/phơi/làm nhỏ→rửa/ngâm loại chất ảnh hưởng cây→phối và ủ với chế phẩm→kiểm/đóng. Sách nêu ngâm nước sạch 2–3 ngày rồi nước vôi 2 kg/100 L trong 5–7 ngày ở cơ sở; đó là thông số tham khảo, người phụ trách quản lí hóa chất/nước thải, không là bài pha của học sinh. Hai trơ cứng in là perlite và gốm: perlite nghiền quặng 0,2–1 mm→nung khoảng 800–850°C theo lược đồ→nguội/kiểm/đóng; gốm thu đất sét/phù sa/phụ phẩm→nghiền/nặn viên→nung khoảng 1200–1300°C→kiểm/đóng. Đây là sản xuất công nghiệp, không thử ở nhà. Gốm bền, xốp/tái dùng được nhưng nhanh khô, không tự cung đủ dinh dưỡng; perlite nhẹ/thoáng cũng cần quản lí nước/pH. Khi pha lớp chỉ dùng vật liệu hoàn thành đã được duyệt, giảm bụi và kiểm nguồn/lô.