Phân tích chế độ sông cần bảng 12 lưu lượng tháng tại một trạm, cùng đơn vị m³/s và thời kì. Tính trung bình năm bằng trung bình 12 tháng theo quy ước bài; khi tính tổng lượng nước thực phải nhân từng tháng với số giây tương ứng. So sánh tháng với trung bình giúp xác định mùa lũ theo tiêu chí đã chọn; tỉ số cực đại/cực tiểu cho mức chênh lệch. Mưa mùa hạ là nguồn cung quan trọng cho lưu vực sông Hồng, nhưng hồ chứa và vận hành làm thay đổi chế độ.
Bài tập mô hình, không phải số liệu trạm Sơn Tây hay Hà Nội: lưu lượng tháng I–XII giả định 900,800,700,900,1500,3000,5000,6000,4500,2500,1500,1100 m³/s. Tổng các giá trị tháng 28400; trung bình khoảng 2366,7 m³/s. Theo tiêu chí tháng lớn hơn trung bình, mùa nước cao VI–X; lớn nhất VIII, nhỏ nhất III. Báo cáo mẫu tách nhận xét định lượng khỏi giải thích: mưa gió mùa có thể giải thích mùa nước cao, song không đủ để xác định vai trò từng hồ. Muốn kết luận thực tế phải dùng chuỗi quan trắc chính thức có trạm và năm.

Bản vẽ mẫu dùng trục tung m³/s, tháng I–XII trên trục hoành và gốc 0. Ngưỡng 2366,7 m³/s chia mùa nước cao VI–X (5 tháng) với mùa nước thấp XI–V (7 tháng) theo đúng tiêu chí đã cho. Không gán kết quả chuỗi giả định này thành số quan trắc của trạm Hà Nội trong sách.