Mô hình mẫu: 2 thùng có lỗ thoát nước do người lớn chuẩn bị, giá thể sạch 40 000 đồng, hạt 12 000 đồng, thùng tái sử dụng phù hợp 0 đồng, nhãn 4 000 đồng: tổng 56 000 đồng, chưa tính công và nước. Nhóm chọn một giống rau phù hợp mùa sau khi giáo viên duyệt nhãn giống, vị trí, lượng giá thể và số cây phù hợp kích thước thùng; không xem số hạt trong bài toán là mật độ sản xuất khuyến nghị. Gieo đúng hướng dẫn của giống, tưới dựa trên độ ẩm và mưa, tỉa/dặm khi được hướng dẫn. Giáo viên quyết định điều kiện thu hoạch, học sinh không tự nếm để chứng minh rau an toàn.
Mẫu xử lí nhật kí giả định: thùng A gieo 15 hạt, ghi nhận 13 cây mọc; thùng B gieo 15 hạt, ghi nhận 11 cây mọc tại cùng lần kiểm tra. Tổng 24/30 = 80%; A đạt khoảng 86,7%, B khoảng 73,3%. Chưa đủ kết luận nguyên nhân chênh lệch, cần đối chiếu độ ẩm, ánh sáng và cách gieo. Báo cáo hoàn chỉnh gồm nguồn giống, điều kiện trồng, bảng chi phí, phân công, nhật kí có ngày và đánh giá theo bằng chứng. Khi chưa làm, ghi toàn bộ bảng là dữ liệu minh hoạ; sau làm, không sửa kết quả để giống mẫu. Không dùng phân tươi, thuốc trừ sâu hoặc hộp từng chứa hóa chất; dự án không tự chứng nhận sản phẩm an toàn tuyệt đối.