Lịch sử 12
Lịch sửLớp 12Chủ đề 5. Lịch sử đối ngoại của Việt Nam thời cận – hiện đại

Bài 13. Hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) và kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

Mục tiêu bài học

  • Phân biệt sách lược hoà hoãn năm 1946, công nhận ngoại giao năm 1950, Giơ-ne-vơ năm 1954 và Pa-ri năm 1973.
  • Phân tích quan hệ quân sự – chính trị – ngoại giao, chủ thể và giới hạn của các loại văn kiện.

Bài giảng

Bảo vệ chính quyền và mở rộng công nhận 1945–1954

Sau độc lập, đối ngoại phục vụ bảo vệ chính quyền, tránh thế đối đầu bất lợi với nhiều lực lượng, tranh thủ thời gian và sự ủng hộ. Sách lược với quân Trung Hoa Dân quốc và Pháp thay đổi theo hoàn cảnh; Hiệp định Sơ bộ 6–3–1946, Tạm ước 14–9–1946 là nỗ lực hoà hoãn có nguyên tắc. Phân biệt nhân nhượng có điều kiện với từ bỏ độc lập: mục tiêu cơ bản được giữ trong khi phương thức linh hoạt.

Từ 1950, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở điều kiện tranh thủ hỗ trợ. Thắng lợi Điện Biên Phủ cùng đấu tranh ngoại giao góp phần đưa tới kết quả Hội nghị Giơ-ne-vơ tháng 7–1954. Các văn kiện đình chiến và tuyên bố cuối cùng cần phân biệt về chủ thể kí, loại văn kiện; không nói tất cả các nước dự hội nghị cùng kí một bản hiệp định giống hệt nhau.

Ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ và quan hệ các mặt trận

Giai đoạn 1954–1975, Việt Nam đấu tranh đòi thực hiện các quyền dân tộc, vạch rõ chiến tranh xâm lược, tranh thủ giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa, đoàn kết ba nước Đông Dương, phong trào hoà bình và phản chiến quốc tế. Đối ngoại không chỉ bàn hội nghị mà còn vận động dư luận, đoàn thể, nhân dân. Cần tách chính sách của chính phủ với người dân phản chiến, không coi cả một xã hội nước ngoài cùng lập trường.

Đàm phán Pa-ri bắt đầu 1968, chuyển từ hai bên sang bốn bên 1969. Hiệp định 27–1–1973 ghi nhận cam kết về quyền dân tộc cơ bản, ngừng bắn, rút quân Mỹ và đồng minh, để nhân dân miền Nam quyết định tương lai chính trị. Ngoại giao dựa sức mạnh quân sự, chính trị và tác động trở lại chiến trường; kết quả không chỉ do một trận hoặc một nhà đàm phán. Bài học là độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu, linh hoạt sách lược, kết hợp các mặt trận và tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi.

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Đàm phán bắt đầu 1968 nhưng kí 1973 có mâu thuẫn không?

    Xem lời giải

    Không. Đàm phán là quá trình nhiều năm với thay đổi thành phần, tương quan và nội dung. Cần ghi rõ đang nói bắt đầu hội nghị hay đạt hiệp định.

Ghi nhớ

Đối ngoại 1945–1975 kiên định độc lập, linh hoạt sách lược, tranh thủ rộng rãi và kết hợp các mặt trận; Giơ-ne-vơ 1954 khác Pa-ri 1973 về hoàn cảnh, nội dung, chủ thể.

Ứng dụng

  • Lập bảng văn kiện với tên, ngày, chủ thể, nội dung, giới hạn; không chỉ học nơi họp và một từ “thắng lợi”.

Dễ nhầm

  • Không coi mọi nhân nhượng là đầu hàng.
  • Không nói tất cả đoàn Giơ-ne-vơ cùng kí một văn bản giống nhau.

Bài tập

Đã đúng 0/6 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Hồ sơ học tập nguyên bản — đọc trước các nhiệm vụ. Các diễn giải, ví dụ và dữ liệu minh hoạ dưới đây được viết mới; không phải bản chép nguồn lịch sử hoặc lời thơ.

    Bảo vệ chính quyền và mở rộng công nhận 1945–1954

    Sau độc lập, đối ngoại phục vụ bảo vệ chính quyền, tránh thế đối đầu bất lợi với nhiều lực lượng, tranh thủ thời gian và sự ủng hộ. Sách lược với quân Trung Hoa Dân quốc và Pháp thay đổi theo hoàn cảnh; Hiệp định Sơ bộ 6–3–1946, Tạm ước 14–9–1946 là nỗ lực hoà hoãn có nguyên tắc. Phân biệt nhân nhượng có điều kiện với từ bỏ độc lập: mục tiêu cơ bản được giữ trong khi phương thức linh hoạt.

    Từ 1950, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở điều kiện tranh thủ hỗ trợ. Thắng lợi Điện Biên Phủ cùng đấu tranh ngoại giao góp phần đưa tới kết quả Hội nghị Giơ-ne-vơ tháng 7–1954. Các văn kiện đình chiến và tuyên bố cuối cùng cần phân biệt về chủ thể kí, loại văn kiện; không nói tất cả các nước dự hội nghị cùng kí một bản hiệp định giống hệt nhau.

    Ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ và quan hệ các mặt trận

    Giai đoạn 1954–1975, Việt Nam đấu tranh đòi thực hiện các quyền dân tộc, vạch rõ chiến tranh xâm lược, tranh thủ giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa, đoàn kết ba nước Đông Dương, phong trào hoà bình và phản chiến quốc tế. Đối ngoại không chỉ bàn hội nghị mà còn vận động dư luận, đoàn thể, nhân dân. Cần tách chính sách của chính phủ với người dân phản chiến, không coi cả một xã hội nước ngoài cùng lập trường.

    Đàm phán Pa-ri bắt đầu 1968, chuyển từ hai bên sang bốn bên 1969. Hiệp định 27–1–1973 ghi nhận cam kết về quyền dân tộc cơ bản, ngừng bắn, rút quân Mỹ và đồng minh, để nhân dân miền Nam quyết định tương lai chính trị. Ngoại giao dựa sức mạnh quân sự, chính trị và tác động trở lại chiến trường; kết quả không chỉ do một trận hoặc một nhà đàm phán. Bài học là độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu, linh hoạt sách lược, kết hợp các mặt trận và tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi.

    Ví dụ đã giải

    Tình huống: Đàm phán bắt đầu 1968 nhưng kí 1973 có mâu thuẫn không?

    Lời giải: Không. Đàm phán là quá trình nhiều năm với thay đổi thành phần, tương quan và nội dung. Cần ghi rõ đang nói bắt đầu hội nghị hay đạt hiệp định.

    Ghi nhớ: Đối ngoại 1945–1975 kiên định độc lập, linh hoạt sách lược, tranh thủ rộng rãi và kết hợp các mặt trận; Giơ-ne-vơ 1954 khác Pa-ri 1973 về hoàn cảnh, nội dung, chủ thể.

  2. Câu 1Mức 1Trắc nghiệm 1 đáp án

    Mục đích quan trọng của sách lược hoà hoãn năm 1946 là gì?

  3. Câu 2Mức 2Trắc nghiệm 1 đáp án

    Đàm phán Pa-ri về Việt Nam bắt đầu năm nào?

  4. Câu 3Mức 2Nhiều đáp án

    Chọn những lực lượng, hình thức có thể thuộc đối ngoại thời kháng chiến.

    Chọn tất cả đáp án đúng

  5. Câu 4Mức 3Đúng / Sai nhiều ý

    Đối chiếu loại văn kiện và kết quả.

    ÝĐúngSai
    a)Công nhận ngoại giao từ 1950 mở điều kiện quốc tế thuận lợi
    b)Mọi đoàn dự Giơ-ne-vơ đều kí cùng một văn kiện như nhau
    c)Pa-ri 1973 tạo điều kiện mới nhưng chưa tự giải phóng miền Nam
    d)Kết hợp quân sự, chính trị, ngoại giao là một bài học
  6. Câu 5Mức 1Sắp xếp thứ tự

    Sắp xếp các sự kiện sau theo thời gian từ sớm đến muộn.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Các nước xã hội chủ nghĩa công nhận Việt Nam 1950
    2. 2Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954
    3. 3Hiệp định Sơ bộ 1946
    4. 4Hiệp định Pa-ri 1973
  7. Câu 6Mức 2Ghép nối

    Ghép sự kiện, chính sách hoặc khái niệm với đặc điểm phù hợp.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  8. Câu 7Mức 3Tự luận

    Giải thích quan hệ “vừa đánh, vừa đàm” mà không coi ngoại giao là việc chỉ diễn ra sau chiến tranh.

    0 từ / tối đa 350

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 4Tự luận

    Viết kết luận so sánh Giơ-ne-vơ 1954 và Pa-ri 1973: một điểm chung, hai khác biệt và một giới hạn.

    0 từ / tối đa 350

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay