Chuẩn bị cốc chia độ, ống nghiệm có nhãn, cối chày, phễu, giấy lọc, que thủy tinh và khay; mẫu quả mềm tươi, dung dịch phá màng do giáo viên chuẩn bị, dịch dứa có protease và ethanol lạnh do giáo viên quản lí. Trình tự: ghi khối lượng mô và thể tích được cấp; nghiền nhẹ, trộn với dung dịch phá màng, lọc bỏ bã; thêm dịch protease theo quy trình được duyệt, rồi giáo viên cho ethanol chảy nhẹ theo thành ống để tạo lớp, không lắc mạnh. Protease trong dứa phân giải protein liên kết với DNA; chất tẩy rửa phá màng; ethanol giúp kết tủa, ba vai trò không hoán đổi. Không coi ethanol loại hết mọi tạp hoặc nước thịt là chất thay protease đã được xác nhận. Mẫu động vật như gan trong bài chỉ do giáo viên/cán bộ phòng thí nghiệm xử lí theo quy trình sinh học, không giao học sinh lấy gan sống hay mẫu cơ thể ở nhà. Mang kính, găng phù hợp; tránh dị ứng dứa, rửa tay, thu gom mô và hóa chất đúng quy định. Mô hình hoàn chỉnh: ống A có mô và đủ bước xuất hiện vật chất trắng tại mặt phân lớp; ống B không mô nhưng cùng thuốc thử không xuất hiện. Kết luận: tín hiệu có nguồn từ mô, có thể chứa DNA cùng RNA/protein; không đọc được trình tự hay chứng minh tinh khiết bằng mắt.