Dùng sáu cành rau muống cùng cây mẹ, chiều dài ban đầu tương đương, sáu chậu cùng lượng đất sạch, bình chia độ, thước và nhãn. Cho ra rễ, chia ngẫu nhiên ba cây mỗi lô A/B. B được duy trì đủ ẩm theo kiểm tra giá thể, A nhận chế độ nước thấp hơn nhưng không để chết/khô kiệt; ghi số mL từng lần chứ không chỉ ghi ít/nhiều, giữ ánh sáng, chậu, tuổi và thời gian như nhau. Đo từ gốc tới đỉnh cùng giờ ngày 0, 7, 14; ghi màu, số lá và mọi cây héo. Dữ liệu sau 14 ngày giả định A:12,14,16 cm, B:18,20,22 cm chỉ mô tả hai điều kiện đã mã hóa; không dùng tên lô để áp đặt lô thiếu nước phải cao hay thấp, phải ghi chế độ và số liệu thật trước khi giải thích. Báo cáo mẫu: mục tiêu kiểm tra tác động môi trường trên nguồn cây tương đồng; hai trung bình 14 và 20 cm, chênh 6 cm; kết quả gợi tính mềm dẻo nhưng chưa chứng minh không có biến dị gene. Nếu không khác rõ, kiểm tra ẩm thực tế, cỡ mẫu, mưa và sai số; không xóa dữ liệu hoặc tăng thiếu nước tới mức gây chết để ép kết quả.