Đây là sơ đồ để đọc và lập hồ sơ; không phải công thức cho đàn thật. Với thức ăn giàu tinh bột, sách dùng bột ngô/khoai/sắn, chế phẩm lên men tinh bột hợp lệ và nước sạch; dụng cụ gồm cân, vật chứa có nắp và dụng cụ trộn. Sáu khâu là chuẩn bị nguyên liệu theo nhãn → chuẩn bị chế phẩm đúng dạng → phối trộn → làm ẩm → ủ trong điều kiện được duyệt → đánh giá sản phẩm. Sách nêu khoảng 24 giờ cho ví dụ ủ; con số này không tự chứng minh hoàn tất, an toàn hay phù hợp mọi chế phẩm. Không tự đặt liều men hoặc thay nhãn bằng một tỉ lệ truyền miệng.
Với thức ăn thô xanh ủ chua, nguồn gồm cỏ/cây thức ăn phù hợp, bột ngô hoặc cám gạo, muối và các đầu vào hợp lệ theo quy trình. Bốn khâu in là sơ chế → cân và phối trộn → nén, đóng kín và ghi hồ sơ ủ → sử dụng/bảo quản sau đánh giá. Sơ chế giúp chiều dài đoạn nguyên liệu và độ ẩm phù hợp; ví dụ sách nêu đoạn 3–5 cm và ẩm 65–70%. Tính kín giúp hạn chế không khí xâm nhập, không chứng nhận mọi nguy cơ đã hết. Dòng tham khảo “sau 3 tuần” hay “tới 6 tháng” chỉ có ý nghĩa trong quy trình và điều kiện tương ứng, không là hạn dùng chung. Dao, máy cắt và toàn bộ vật liệu thật thuộc giáo viên/người chuyên môn; học sinh không lên men, mở bao bất thường, ngửi sát hay cho động vật ăn để kiểm tra.
Phiếu giấy mẫu đã hoàn thành: T1 ghi nguồn bột nhưng thiếu nhãn chế phẩm và điều kiện ủ → chưa đủ căn cứ duyệt quy trình, không tự điền giả liều/điều kiện. X1 ghi nguồn cỏ, ngày đóng túi nhưng túi thủng → không đáp ứng khâu giữ kín; màu đẹp không bù lỗi này. Cả hai chuyển người phụ trách, ghi rõ chưa thực hiện và chưa chứng nhận sản phẩm.