Hồ sơ học tập nguyên gốc — Bài 8. Một số cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng trong lịch sử Việt Nam (từ thế kỉ III trước Công nguyên đến cuối thế kỉ XIX)
Chống Bắc thuộc và khởi nghĩa Lam Sơn
Từ thế kỉ III trước Công nguyên, nhân dân nhiều lần đấu tranh chống xâm lược, đô hộ và giành quyền tự chủ. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, Bà Triệu năm 248, Lý Bí năm 542, Mai Thúc Loan đầu thế kỉ VIII, Phùng Hưng cuối thế kỉ VIII thể hiện ý chí độc lập. Lý Bí thành lập nước Vạn Xuân năm 544. Dù không phải cuộc đấu tranh nào cũng giữ được thành quả lâu dài, chúng nối tiếp truyền thống tự chủ và tạo tiền đề cho bước ngoặt thế kỉ X.
Sau khi nhà Minh xâm lược, nước ta bị đặt dưới ách cai trị, tên gọi Giao Chỉ được áp đặt. Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn năm 1418. Giai đoạn đầu khó khăn ở miền núi Thanh Hoá; từ 1424 chuyển hướng vào Nghệ An, mở rộng vùng giải phóng. Năm 1426 thắng Tốt Động – Chúc Động; năm 1427 thắng Chi Lăng – Xương Giang, làm thất bại viện binh. Hội thề Đông Quan cuối năm 1427 mở đường quân Minh rút, cuộc giải phóng hoàn thành, nhà Lê sơ thành lập năm 1428.
Phong trào Tây Sơn và giá trị lịch sử
Khủng hoảng Đàng Trong, sự áp bức và mâu thuẫn xã hội thúc đẩy phong trào Tây Sơn bùng nổ năm 1771 do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Phong trào lần lượt lật đổ chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, góp phần xoá bỏ chia cắt. Trước ngoại xâm, Nguyễn Huệ lãnh đạo đánh Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, đánh Thanh ở Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789. Đây là các cuộc bảo vệ đất nước gắn trong một phong trào khởi nghĩa có mục tiêu xã hội – chính trị rộng hơn.
Các phong trào cho thấy vai trò tổ chức, căn cứ, thời cơ, khối đoàn kết, lòng dân và chính sách với đối phương. Chiến thắng Lam Sơn gắn sự trưởng thành lực lượng và chuyển hướng chiến lược, không chỉ một trận đánh. Khi nhận xét Tây Sơn phải phân biệt đóng góp thống nhất và chống xâm lược với những giới hạn, thời gian tồn tại. Cần đọc chứng cứ theo đúng niên đại; địa danh Xương Giang nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Tây Sơn và bảo tàng Quang Trung nay thuộc tỉnh Gia Lai theo cập nhật hiện hành.
Niên biểu khởi nghĩa và những bước chuyển trong Lam Sơn, Tây Sơn
| Thời kì | Dữ kiện phân biệt | Nhận xét có giới hạn |
|---|
| Hai Bà Trưng | Khởi nghĩa 40, Trưng Trắc lên làm vua; thất bại trước đàn áp năm 43 | Thắng lợi bước đầu không đồng nghĩa tự chủ kéo dài mãi |
| Bà Triệu | Khởi nghĩa 248 chống nhà Ngô | Không đồng nhất với cuộc nổi dậy chống Hán của Hai Bà Trưng |
| Lý Bí và những người kế tục | Khởi nghĩa 542, lập Vạn Xuân 544; Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến; nhà Tuỳ xâm lược 602 | Tên người khởi đầu không bao quát mọi giai đoạn và lực lượng |
| Phùng Hưng | Cuối thế kỉVIII, chống Đường, giành quyền quản lí trong một thời gian | Chưa thể lấy một thắng lợi làm ngày chấm dứt toàn bộ Bắc thuộc |
| Lam Sơn | 1418 khởi đầu; 1424 chuyển vào Nghệ An; 1426 Tốt Động–Chúc Động; 1427 Chi Lăng–Xương Giang và hội thề Đông Quan; 1428 lập Lê sơ | Chuyển hướng, trưởng thành lực lượng, thắng lợi quân sự và ngoại giao liên hệ nhau |
| Tây Sơn | 1771 khởi nghĩa; lật đổ chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong; 1785 thắng Xiêm; 1786 lật đổ chúa Trịnh; 1789 thắng Thanh | Đóng góp xoá chia cắt và bảo vệ đất nước có liên hệ nhưng không phải một nhiệm vụ duy nhất |
Khi phân tích ý nghĩa, dùng niên biểu để xác định hoàn cảnh rồi nối với tổ chức, lòng dân và thời cơ. Không chỉ xếp tên theo năm hoặc dùng một kết quả về sau để dự báo mọi bước trước đó.