Liên hệ các nội dung của chương
Sâu hại là động vật gây hại như côn trùng ở giai đoạn phù hợp; bệnh hại là trạng thái bất thường do tác nhân sinh học hoặc điều kiện, phải phân biệt thiếu dinh dưỡng/ngộ độc với bệnh truyền nhiễm. Thiệt hại có thể ảnh hưởng năng suất, chất lượng, chi phí và môi trường. Phòng trừ tổng hợp ưu tiên giống/đất/chăm sóc, vệ sinh, theo dõi, thiên địch và biện pháp được phép theo ngưỡng, hạn chế lạm dụng thuốc. Không thấy lá sâu là phun mọi thuốc.
Bốn sâu hại trong bài là rầy nâu, sâu tơ, sâu keo mùa thu và ruồi đục quả. Rầy nâu có con trưởng thành nâu khoảng 3–5 mm, dạng cánh dài/ngắn; con non nhạt rồi sẫm hơn, chích hút lúa, có thể làm cháy rầy; bảo vệ thiên địch, giống/lịch vụ và dinh dưỡng phù hợp. Sâu tơ có sâu non xanh nhạt khoảng 10 mm, ăn lá rau họ cải, lúc nhỏ tạo cửa sổ biểu bì rồi lỗ thủng; theo dõi sâu non, vệ sinh và luân canh với cây không cùng họ phù hợp. Sâu keo mùa thu chủ yếu hại ngô: sâu non có dấu Y ngược trên đầu và bốn chấm đen thành hình vuông gần cuối bụng, ăn lá/lõi nõn và có thể hại bắp; trứng–sâu non–nhộng–trưởng thành là bốn giai đoạn. Quản lí tàn dư, theo dõi và dùng bẫy/biện pháp sinh học được duyệt, không nuôi hoặc phát tán sâu. Ruồi đục quả có ruồi trưởng thành vàng sẫm, vệt sẫm dạng T trên bụng, ấu trùng nhạt không chân trong quả; vết chích có thể dẫn tới thối/rụng. Bao quả, vệ sinh/thu gom quả hại và bẫy được duyệt theo đối tượng. Không coi mọi côn trùng là sâu hại; thuốc chỉ do người có thẩm quyền theo nhãn và quy định, học sinh không tự pha.
Bốn bệnh được in trong bài là thán thư, vàng lá gân xanh (greening), đạo ôn lúa và héo xanh vi khuẩn. Thán thư do nấm Colletotrichum, có thể tạo đốm nâu trên lá, tổn thương sẫm hơi lõm trên quả, thối/rụng trong điều kiện thuận; vệ sinh, tán thông thoáng và thoát nước phù hợp. Greening ở cây có múi liên quan vi khuẩn và môi giới rầy chổng cánh, lá vàng loang, gân còn xanh và quả có thể nhỏ/lệch; dùng nguồn giống khỏe, quản lí môi giới theo chuyên môn, không hứa chữa khỏi bằng một thuốc. Đạo ôn do nấm gây bệnh lúa: vết lá dạng thoi, giữa xám, có thể hại cổ bông; giống khỏe/chống chịu và canh tác cân đối. Héo xanh vi khuẩn có thể gây héo rũ khi lá còn xanh; dùng giống khỏe, vệ sinh/luân canh phù hợp, cần chẩn đoán để phân biệt héo do úng hay thiếu nước. Hai bệnh nấm không đồng nghĩa cùng thuốc; mọi vàng lá không phải greening. Học sinh không nuôi cấy tác nhân, cắt cây nghi bệnh hoặc tự thử thuốc.
Chế phẩm vi sinh có thể dùng vi khuẩn như Bt, virus đặc hiệu hoặc nấm đối kháng/kí sinh theo tác nhân, mục tiêu và đăng kí. Bt có độc tố tác động lên một số sâu non phù hợp, không là thuốc cho mọi bệnh; virus thường có tính đặc hiệu; nấm có điều kiện nảy mầm/tác động. Hiệu quả phụ thuộc chủng, mật độ, thời điểm, bảo quản/thời tiết. “Sinh học” không đồng nghĩa được dùng bất kì liều hay không cần hướng dẫn.