Lịch sử 10
Lịch sửLớp 10Chủ đề 5. Văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại

Hành trình phát triển và thành tựu của văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại

Mục tiêu bài học

  • Giải thích và vận dụng các nội dung: Văn minh Đông Nam Á phát triển đa trung tâm; Ảnh hưởng ngoại sinh được tiếp biến; Chữ viết và kiến trúc phản ánh sáng tạo bản địa.
  • Đọc và đối chiếu tư liệu, phân biệt thông tin có căn cứ với suy diễn.

Bài giảng

Một hành trình nhiều trung tâm

Trên cơ sở nông nghiệp, nghề thủ công và giao thương, các nhà nước cổ hình thành trong những thế kỉ trước và đầu Công nguyên. Từ khoảng thế kỉ VII đến XV, nhiều quốc gia phát triển mạnh, văn minh có bản sắc rõ nét. Từ thế kỉ XVI đến XIX, giao lưu mở rộng nhưng sức ép bành trướng phương Tây tăng lên. Ranh giới các giai đoạn là quy ước khái quát; từng cộng đồng có nhịp phát triển riêng, không phải mọi nước cùng bắt đầu hoặc kết thúc một lúc.

Tiếp biến văn hoá

Tín ngưỡng bản địa như thờ tự nhiên, tổ tiên và phồn thực tiếp tục tồn tại khi Phật giáo, Hin-đu giáo, Hồi giáo, Công giáo được truyền vào theo những thời điểm và con đường khác nhau. Cư dân cải biến chữ Ấn Độ hoặc tiếp thu chữ Hán để sáng tạo chữ viết phù hợp tiếng nói của mình. Văn học truyền miệng và văn học viết cùng phát triển. Ăng-co, Bô-rô-bu-đua, Thạt Luổng và đền tháp Chăm cho thấy sự kết hợp ảnh hưởng tôn giáo với sáng tạo địa phương.

Hồ sơ di sản mẫu

Bô-rô-bu-đua ở In-đô-nê-xi-a là công trình Phật giáo tiêu biểu; Ăng-co ở Cam-pu-chia phản ánh lịch sử tôn giáo và quyền lực của vương quốc Khơ-me. Một hồ sơ hợp lí không chỉ nêu tên mà giải thích chất liệu, không gian và ý nghĩa biểu tượng, đồng thời ghi nguồn chính thức. Không gom mọi công trình thành cùng một tôn giáo hay gọi văn minh Đông Nam Á là bản sao Ấn Độ. Sự lựa chọn, cải biến và kết hợp với truyền thống bản địa chính là năng lực sáng tạo.

Văn tự, văn học, điêu khắc và đối thoại tôn giáo

Chữ Chăm cổ, Khơ-me cổ, Miến cổ và chữ Nôm là những ví dụ về việc tạo công cụ ghi tiếng nói của cộng đồng qua quá trình tiếp xúc. Văn học dân gian có thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, truyện thơ; văn học viết có Truyện Kiều ở Việt Nam, Reamker ở Cam-pu-chia và Ramakien ở Thái Lan. Khi so sánh Reamker hoặc Ramakien với ảnh hưởng sử thi Ấn Độ, điều cần hỏi là câu chuyện được lựa chọn, biến đổi trong ngôn ngữ và bối cảnh nào, không phải mặc định mọi bản kể giống nhau.

Kiến trúc và điêu khắc liên hệ nhưng không đồng nhất: đền, tháp là tổ chức không gian; tượng và phù điêu tạo hình con người, thần linh, hoa văn. Trống đồng Đông Sơn và gốm Bản Chiềng cho thấy truyền thống tạo hình bản địa; Mỹ Sơn, Ăng-co và Bô-rô-bu-đua cho thấy sáng tạo qua giao lưu. Phật giáo, Hin-đu giáo, Hồi giáo và Công giáo đến theo những đường khác nhau, trong khi thờ tự nhiên, tổ tiên và tín ngưỡng phồn thực vẫn hiện diện. Muốn giới thiệu một di sản phải nêu đúng địa điểm, bối cảnh tôn giáo và chủ thể; không đồng nhất sự cùng tồn tại với việc chưa từng có xung đột trong lịch sử.

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Vì sao tiếp nhận tôn giáo bên ngoài không làm mất hoàn toàn bản sắc Đông Nam Á?

    Xem lời giải

    Cư dân đã có tín ngưỡng, phương thức sản xuất và truyền thống nghệ thuật trước giao lưu. Khi tôn giáo mới đến, họ lựa chọn nội dung phù hợp, kết hợp với thờ tổ tiên, nghi lễ và thẩm mĩ địa phương. Việc cải biến chữ viết để ghi tiếng nói riêng là một chứng cứ về chủ động tiếp thu. Công trình tôn giáo tuy có cùng nguồn ảnh hưởng vẫn khác về bố cục và trang trí. Vì thế cần giải thích quá trình tiếp biến, không coi giao lưu là sao chép hay phủ nhận mọi tác động từ bên ngoài.

Ghi nhớ

Văn minh Đông Nam Á phát triển đa trung tâm; Ảnh hưởng ngoại sinh được tiếp biến; Chữ viết và kiến trúc phản ánh sáng tạo bản địa.

Dễ nhầm

  • Cải biến để ghi âm và biểu đạt ngôn ngữ bản địa thể hiện sáng tạo.

Bài tập

Đã đúng 0/4 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Hồ sơ học tập tự biên soạn để dùng độc lập với bài giảng:

    Một hành trình nhiều trung tâm
    Trên cơ sở nông nghiệp, nghề thủ công và giao thương, các nhà nước cổ hình thành trong những thế kỉ trước và đầu Công nguyên. Từ khoảng thế kỉ VII đến XV, nhiều quốc gia phát triển mạnh, văn minh có bản sắc rõ nét. Từ thế kỉ XVI đến XIX, giao lưu mở rộng nhưng sức ép bành trướng phương Tây tăng lên. Ranh giới các giai đoạn là quy ước khái quát; từng cộng đồng có nhịp phát triển riêng, không phải mọi nước cùng bắt đầu hoặc kết thúc một lúc.

    Tiếp biến văn hoá
    Tín ngưỡng bản địa như thờ tự nhiên, tổ tiên và phồn thực tiếp tục tồn tại khi Phật giáo, Hin-đu giáo, Hồi giáo, Công giáo được truyền vào theo những thời điểm và con đường khác nhau. Cư dân cải biến chữ Ấn Độ hoặc tiếp thu chữ Hán để sáng tạo chữ viết phù hợp tiếng nói của mình. Văn học truyền miệng và văn học viết cùng phát triển. Ăng-co, Bô-rô-bu-đua, Thạt Luổng và đền tháp Chăm cho thấy sự kết hợp ảnh hưởng tôn giáo với sáng tạo địa phương.

    Hồ sơ di sản mẫu
    Bô-rô-bu-đua ở In-đô-nê-xi-a là công trình Phật giáo tiêu biểu; Ăng-co ở Cam-pu-chia phản ánh lịch sử tôn giáo và quyền lực của vương quốc Khơ-me. Một hồ sơ hợp lí không chỉ nêu tên mà giải thích chất liệu, không gian và ý nghĩa biểu tượng, đồng thời ghi nguồn chính thức. Không gom mọi công trình thành cùng một tôn giáo hay gọi văn minh Đông Nam Á là bản sao Ấn Độ. Sự lựa chọn, cải biến và kết hợp với truyền thống bản địa chính là năng lực sáng tạo.

    Văn tự, văn học, điêu khắc và đối thoại tôn giáo
    Chữ Chăm cổ, Khơ-me cổ, Miến cổ và chữ Nôm là những ví dụ về việc tạo công cụ ghi tiếng nói của cộng đồng qua quá trình tiếp xúc. Văn học dân gian có thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, truyện thơ; văn học viết có Truyện Kiều ở Việt Nam, Reamker ở Cam-pu-chia và Ramakien ở Thái Lan. Khi so sánh Reamker hoặc Ramakien với ảnh hưởng sử thi Ấn Độ, điều cần hỏi là câu chuyện được lựa chọn, biến đổi trong ngôn ngữ và bối cảnh nào, không phải mặc định mọi bản kể giống nhau.

    Kiến trúc và điêu khắc liên hệ nhưng không đồng nhất: đền, tháp là tổ chức không gian; tượng và phù điêu tạo hình con người, thần linh, hoa văn. Trống đồng Đông Sơn và gốm Bản Chiềng cho thấy truyền thống tạo hình bản địa; Mỹ Sơn, Ăng-co và Bô-rô-bu-đua cho thấy sáng tạo qua giao lưu. Phật giáo, Hin-đu giáo, Hồi giáo và Công giáo đến theo những đường khác nhau, trong khi thờ tự nhiên, tổ tiên và tín ngưỡng phồn thực vẫn hiện diện. Muốn giới thiệu một di sản phải nêu đúng địa điểm, bối cảnh tôn giáo và chủ thể; không đồng nhất sự cùng tồn tại với việc chưa từng có xung đột trong lịch sử.

  2. Câu 1Mức 1Trắc nghiệm 1 đáp án

    Nhận xét nào đúng nhất về văn minh khu vực?

  3. Câu 2Mức 2Ghép nối

    Ghép các mục đúng với đặc điểm tương ứng.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  4. Câu 3Mức 2Đúng / Sai

    Chữ viết riêng có thể hình thành bằng cách cải biến chữ du nhập.

  5. Câu 4Mức 2Nhiều đáp án

    Chọn đúng hai nhận định về sáng tạo Đông Nam Á.

    Chọn tất cả đáp án đúng

  6. Câu 5Mức 2Tự luận

    Từ hồ sơ trên, lập ba hàng ghi nhận định – căn cứ – giới hạn. Không biến tình huống minh hoạ thành quan sát thực tế.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 6Mức 3Tự luận

    Vì sao tiếp nhận tôn giáo bên ngoài không làm mất hoàn toàn bản sắc Đông Nam Á?

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 7Mức 3Tự luận

    Viết đoạn 120–180 chữ giải thích nhận định: Văn minh Đông Nam Á phát triển đa trung tâm. Dùng một trường hợp cụ thể trong hồ sơ.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 3Tự luận

    Thiết kế một thẻ học tập gồm tiêu đề, ba ý kiến thức, một lưu ý tránh nhầm và một câu hỏi cần tìm hiểu tiếp. Dùng nội dung bài này; không ghi đã khảo sát nếu chưa thực hiện.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay