Hồ sơ học tập nguyên gốc — Châu Á từ năm 1991 đến nay
Các mốc liên kết và xã hội có niên đại
ASEAN tăng liên kết qua AFTA năm 1992, Hiến chương ASEAN năm 2007, Cộng đồng thành lập 31-12-2015. RCEP kí năm 2020, có hiệu lực từ 2022 với các đối tác theo điều kiện hiệp định. Cập nhật có ngày: Timor-Leste trở thành thành viên ASEAN thứ 11 ngày 26-10-2025, theo Báo Điện tử Chính phủ; do đó “ASEAN 10” chỉ là mốc lịch sử từ 1999, không phải số hiện hành. Hàn Quốc chuyển mạnh sang công nghệ cao, tuổi thọ theo bảng SGK tăng 72 tuổi (1991) lên 84 (2021); Trung Quốc tăng quy mô, thu nhập và y tế nhưng chịu chênh lệch, ô nhiễm; Nhật Bản duy trì mức phát triển cao dù tăng trưởng chậm. Phân biệt số liệu 2021 với hiện tại.
Đông Bắc Á
Trung Quốc tiếp tục cải cách, mở cửa, tăng quy mô kinh tế và ảnh hưởng quốc tế; phát triển đồng thời đặt ra vấn đề môi trường, chênh lệch và quan hệ quốc tế. Nhật Bản duy trì vai trò trung tâm kinh tế, công nghệ nhưng đối mặt tăng trưởng chậm, già hoá; Hàn Quốc phát triển công nghiệp và văn hoá. Bán đảo Triều Tiên vẫn có vấn đề an ninh. Không dùng nhãn phát triển để phủ nhận khó khăn hoặc đánh đồng các nước.
Đông Nam Á và hợp tác khu vực
ASEAN mở rộng sau 1991: Việt Nam 1995, Lào và Mi-an-ma 1997, Cam-pu-chia 1999; Cộng đồng ASEAN hình thành năm 2015. Hợp tác bao gồm chính trị - an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội; tôn trọng độc lập, chủ quyền và giải quyết tranh chấp hoà bình. Danh sách thành viên phải gắn thời điểm: bảng các mốc mở rộng 1995–1999 không tự là số thành viên hiện tại. Không bổ sung một sự kiện mới nếu chưa kiểm tra nguồn có ngày.
Phát triển, hội nhập và thách thức
Châu Á tăng vai trò trong sản xuất, thương mại, đổi mới; đồng thời chịu tác động khủng hoảng tài chính, dịch bệnh, thiên tai, bất bình đẳng và tranh chấp. Hội nhập tạo cơ hội thị trường, công nghệ, việc làm nhưng đòi hỏi năng lực cạnh tranh, an toàn dữ liệu và bảo vệ môi trường. So sánh cần cùng chỉ tiêu, thời gian và đơn vị, không đồng nhất GDP lớn với mức sống bình quân cao nhất.