Trong các loài cá nước ngọt đẻ trứng được dùng làm ví dụ, thụ tinh thường xảy ra ngoài cơ thể trong nước. Tuổi thành thục, mùa, nơi đẻ và sức sinh sản khác nhau giữa loài; sức sinh sản tuyệt đối là số trứng mỗi cá cái, còn sức sinh sản tương đối thường tính theo khối lượng cá cái, không lẫn hai mẫu số. Không suy cá đẻ con hoặc mọi loài cá có cùng quy luật.
Ương cá giống có hai chặng riêng: cá bột → cá hương và cá hương → cá giống. Cá mới nở còn dùng noãn hoàng; thời điểm nhận cá bột để ương phải phù hợp khả năng dùng thức ăn ngoài của loài, không chỉ “đã nở là cho ăn như cá lớn”. Hồ sơ chặng đầu kiểm tra hệ thống, nguồn giống, điều kiện nước, thức ăn cỡ nhỏ phù hợp và tăng trưởng/sức khoẻ; chặng sau điều chỉnh thức ăn, mật độ và quản lí theo cỡ cá hương đến tiêu chí cá giống. Cỡ thu và thời gian phụ thuộc loài/quy trình, không chuyển nguyên lịch một loài cho loài khác. Đây là mô tả hồ sơ sản xuất, không chỉ dẫn học sinh thả, bắt hoặc xử lí động vật.