Hồ sơ học tập nguyên gốc — Bài 6. Hành trình đi đến độc lập dân tộc ở Đông Nam Á
Những làn sóng đấu tranh và cơ hội năm 1945
Phong trào chống thực dân xuất hiện ngay từ thời kì bị xâm lược. Ban đầu, các cuộc đấu tranh thường gắn với vua quan, thủ lĩnh địa phương, nông dân hoặc tôn giáo; nhiều cuộc kiên cường nhưng hạn chế về tổ chức, vũ khí và liên kết. Từ cuối thế kỉ XIX – đầu XX, sự chuyển biến kinh tế – xã hội và ảnh hưởng tư tưởng mới làm xuất hiện khuynh hướng dân chủ tư sản. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, khuynh hướng vô sản và các đảng cộng sản phát triển ở nhiều nơi; các khuynh hướng có thể cùng tồn tại, không nối nhau như những ngăn kín.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật chiếm khu vực, làm thay đổi hệ thống cai trị. Nhật đầu hàng tháng 8–1945 tạo thời cơ nhưng thắng lợi độc lập còn cần chuẩn bị và hành động của nhân dân từng nước. In-đô-nê-xi-a tuyên bố độc lập ngày 17–8–1945; Việt Nam ngày 2–9–1945; Lào ngày 12–10–1945. Các tuyên bố không có nghĩa mọi nước đã kết thúc ngay mọi chiến tranh hay được thực dân công nhận lập tức.
Hoàn thành độc lập, tái thiết và hợp tác
Sau 1945, nhiều dân tộc tiếp tục kháng chiến hoặc thương lượng để hoàn thành độc lập: Phi-líp-pin được công nhận độc lập năm 1946; Miến Điện năm 1948; Liên bang Mã Lai năm 1957; Bru-nây năm 1984. Đông Ti-mo trở thành quốc gia độc lập năm 2002. Con đường và thời điểm khác nhau do lực lượng trong nước, chính sách thực dân và bối cảnh quốc tế. Ở Đông Dương, đấu tranh giải phóng gắn với các cuộc chiến kéo dài.
Di sản thuộc địa gồm kinh tế lệ thuộc, nghèo đói, phân hoá xã hội; một số hạ tầng và ngành sản xuất mới cũng để lại khả năng chuyển đổi. Các nước tái thiết theo con đường khác nhau, có nước từ thay thế nhập khẩu chuyển sang hướng xuất khẩu, có nước tiến hành đổi mới kinh tế muộn hơn. ASEAN thành lập năm 1967 với 5 nước, đạt 10 thành viên năm 1999; theo bản cập nhật của nhà xuất bản hiện hành, tổ chức có 11 thành viên sau khi Đông Ti-mo gia nhập năm 2025. “ASEAN 10” là một giai đoạn lịch sử, không phải số lượng thành viên vĩnh viễn.
Ví dụ đấu tranh và các chặng giành, bảo vệ độc lập
Ở hải đảo, khởi nghĩa Đi-pô-nê-gô-rô tại Gia-va 1825–1830 chống Hà Lan là một ví dụ về phong trào trước khi xuất hiện các tổ chức chính trị hiện đại. Ở Cam-pu-chia, Si-vô-tha 1861–1892, A-cha Xoa 1863–1866 và Pu-côm-bô 1866–1867 thể hiện nhiều trung tâm đấu tranh chống Pháp; không ghép các khoảng năm thành một cuộc duy nhất.
Theo sơ đồ khái quát của bài học, từ cuối thế kỉXIX đến 1920 là giai đoạn chuyển biến theo khuynh hướng tư sản; 1920–1945 xuất hiện và phát triển khuynh hướng vô sản, trong khi các lực lượng khác vẫn hoạt động; 1945–1975 là chặng nhiều nước hoàn thành đấu tranh giành độc lập, với những trường hợp muộn hơn như Bru-nây 1984 và Đông Ti-mo 2002. Những khoảng này là cách phân kì khu vực, không xoá lịch sử riêng từng nước. Tuyên bố 1945 ở Việt Nam, Lào không đồng nghĩa toàn bộ chiến tranh giải phóng kết thúc năm đó.
Tái thiết phải xử lí di sản thuộc địa: kinh tế lệ thuộc, phân hoá xã hội, hạn chế tiếp cận giáo dục. Thay thế nhập khẩu ưu tiên sản xuất hàng trong nước; hướng xuất khẩu lấy hàng xuất làm động lực; đổi mới cơ chế và hợp tác khu vực là những lựa chọn khác nhau theo điều kiện. Tuyên bố Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN 47 ngày 26/10/2025, mục 3, xác nhận Đông Ti-mo là thành viên thứ 11; đây là nguồn kiểm chứng mốc cập nhật, không chỉ một con số không ngày.