Hồ sơ học tập nguyên gốc — Bài 4. Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
Mở rộng hệ thống và những thành tựu
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu tiến hành cải cách xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở châu Á, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949; cách mạng tại Việt Nam, Lào và những biến đổi ở các nước khác mở rộng phạm vi chủ nghĩa xã hội. Cu-ba sau thắng lợi cách mạng năm 1959 lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Từ một nước, chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới.
Liên Xô và nhiều nước đạt thành tựu về công nghiệp, giáo dục, y tế, khoa học – kĩ thuật; sức mạnh đó góp phần vào tương quan quốc tế và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Nhưng mô hình quản lí tập trung quan liêu, thiếu linh hoạt, hạn chế dân chủ và chậm thích ứng với biến đổi kinh tế – công nghệ làm tích tụ khó khăn. Không nên dùng thành tựu để phủ nhận khuyết điểm hoặc dùng khủng hoảng để xoá sạch thành tựu.
Khủng hoảng, cải cách và con đường tiếp tục
Cuối thập niên 1980, chế độ xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu lần lượt sụp đổ; Liên Xô tan rã năm 1991. Nguyên nhân gồm hạn chế kéo dài của mô hình, sai lầm trong cải tổ, khủng hoảng kinh tế – xã hội và tác động từ bên ngoài. Đây là kết quả nhiều yếu tố; không quy về một chính sách đơn lẻ hay một nguyên nhân bên ngoài duy nhất.
Trung Quốc bắt đầu cải cách, mở cửa từ tháng 12–1978, lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới cơ chế và hội nhập. Việt Nam tiến hành Đổi mới từ năm 1986; Lào có công cuộc đổi mới của mình; Cu-ba điều chỉnh mô hình theo điều kiện đất nước. Những quốc gia tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội có thành tựu và thách thức khác nhau. Khi mô tả “đến nay”, phải gắn số liệu với năm và không suy rằng mọi nước áp dụng cùng một mô hình.
Đọc thành tựu cải cách Trung Quốc trong điều kiện có mốc
Từ tháng 12–1978, Trung Quốc chuyển trọng tâm sang phát triển kinh tế, thay đổi cơ chế quản lí và mở rộng giao lưu. Trong phần thành tựu của bản sách hiện hành, năm 2010 là mốc quy mô tổng GDP lên thứ hai thế giới; không được đổi nhận định ấy thành thứ hạng GDP bình quân đầu người hoặc sức mua tương đương. Những ví dụ khác gồm phát triển hàng không vũ trụ, hệ thống định vị Bắc Đẩu, đường sắt tốc độ cao, hạ tầng số và công nghệ mới. Cải cách giáo dục phục vụ đào tạo nhân lực; giảm nghèo, an sinh làm biến đổi đời sống xã hội.
Ý nghĩa là tăng năng lực sản xuất, vị thế và khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển, đồng thời cung cấp kinh nghiệm điều chỉnh mô hình. Không suy mọi khó khăn đã hết hoặc nước khác có thể áp dụng nguyên xi. Khi dùng số liệu trong sách, ghi đúng năm, đơn vị và chỉ tiêu; thành tựu công nghệ không tự đo mức bình đẳng, chất lượng môi trường hay quyền tiếp cận dịch vụ.