Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập
Luyện tập và vận dụng – Đọc – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.
Ôn tập học kì 2: đọc mục đích, cấu trúc, căn cứ và giới hạn. Phạm vi là các Bài 6–9. Hồ sơ dưới đây giữ đủ văn bản tóm giải hoặc mô hình cần dùng; không yêu cầu đoán đoạn văn chưa có. Khi chọn một phương án thực hành, nói rõ lựa chọn, giữ căn cứ và giới hạn.
Ôn tập học kì II – Đọc Vật liệu thông minh
Ôn tập học kì II – Đọc Vật liệu thông minh – Anna Ploszajski; Nguyễn Kim Phụng dịch bản tham khảo trong SGK.
Văn bản thông tin giới thiệu những vật liệu có tính chất thay đổi khi có kích thích như ánh sáng, nhiệt độ, áp lực hoặc độ ẩm. Các nhóm chức năng được nêu gồm đổi màu, cảm nhận, di chuyển, điều chỉnh nóng lạnh, tự khắc phục và đổi trạng thái. Ví dụ quen thuộc là kính đổi độ tối theo ánh sáng hoặc đồ vật biến sắc theo nhiệt. Tác giả mở tới viễn cảnh ứng dụng rộng, nhưng việc nêu khả năng tương lai không đồng nghĩa mọi vật liệu ấy đã phổ biến hoặc hoạt động không giới hạn. Đây là tóm giải mới, không bản dịch.
Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.
Cách triển khai từ hình dung đời sống đến định nghĩa, nhóm chức năng và ví dụ giúp người đọc đi từ hứng thú tới hiểu khái niệm. Cần phân biệt ứng dụng đã quen với dự báo. Từ thông minh là cách gọi chức năng đáp ứng, không có nghĩa vật liệu suy nghĩ như người. Khi nối với bài học thông tin, phải kiểm nguồn, thời điểm và điều kiện; không yêu cầu học sinh tự thử hoá chất, nung vật liệu hay chế thiết bị nguy hiểm để chứng minh bài đọc.
Có thể lập sơ đồ: kích thích → tính chất đổi → chức năng sử dụng. Ví dụ ánh sáng làm kính đổi độ tối được dùng để giải thích quan hệ, không để kết luận mọi kính dùng cùng cơ chế hoặc bảo vệ mắt trong mọi điều kiện. Một câu hỏi nghiên cứu tiếp là ứng dụng nào đã kiểm chứng, nguồn chuyên môn nào cho biết giới hạn; học sinh chỉ đọc nguồn an toàn, không tự thí nghiệm.
Ôn tập học kì II – Đọc 80 năm nhìn lại...
Ôn tập học kì II – Đọc 80 năm nhìn lại... – Nguyễn Khắc Viện.
Đoạn tự truyện nhìn lại ý thức trách nhiệm của một người được học hành trước đất nước, nhân dân và những người đã hi sinh. Người kể chọn lời nói, cây bút và hoạt động giải thích, thuyết phục làm cách đóng góp. Kí ức cũng nhấn sự giúp đỡ của bạn bè nhiều nơi và người bạn đời, cho thấy hành trình không chỉ do một cá nhân tự tạo. Lời tóm giải này không chép tự truyện. Không chuyển trải nghiệm riêng thành yêu cầu rằng mọi người phải chọn cùng một nghề hay cùng hình thức dấn thân.
Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.
Yếu tố tự sự cung cấp chặng đường và việc đã làm; biểu cảm hiện ở ý thức mang ơn, gắn bó và niềm nhìn lại. Sự kết hợp giúp quan điểm trách nhiệm có căn cứ đời sống, không chỉ là lời khuyên. Khi phân tích, cần tách sự kiện do người kể hồi tưởng với thông tin lịch sử muốn kiểm thêm. So với văn bản vật liệu, mục đích và cách chọn dữ liệu khác: một bên giải thích đối tượng khoa học, một bên tự nhìn lại và bày tỏ giá trị.
Bài học cho bài luận cá nhân là chọn việc cụ thể, nói điều nó thay đổi trong nhận thức và thừa nhận người đã hỗ trợ. Một bài viết đáng tin không cần tự dựng chiến công. Có thể nêu điều còn chưa làm được và kế hoạch vừa sức. Tự hiểu mình cũng gồm hiểu các quan hệ đã làm nên khả năng của mình, không chỉ liệt kê ưu điểm.
Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.