Ngữ văn 10 – Hai tập
Ngữ vănLớp 10Phần 6. Tập một – Ôn tập học kì I

Luyện tập và vận dụng – Viết

Mục tiêu bài học

  • Nhận biết và phân tích yếu tố nội dung, nghệ thuật hoặc lập luận của Luyện tập và vận dụng – Viết.
  • Đánh giá có căn cứ, giữ giới hạn của bản tóm giải và tôn trọng quyền tác giả.

Bài giảng

Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập

Luyện tập và vận dụng – Viết – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.

Ôn tập học kì 1: chọn kiểu viết và triển khai thành bản hoàn chỉnh. Phạm vi là các Bài 1–5. Hồ sơ dưới đây giữ đủ văn bản tóm giải hoặc mô hình cần dùng; không yêu cầu đoán đoạn văn chưa có. Khi chọn một phương án thực hành, nói rõ lựa chọn, giữ căn cứ và giới hạn.

Phương án 1

Giữ điều đẹp trong một nơi không đẹp

Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đặt cuộc gặp giữa Huấn Cao và viên quản ngục ở một nơi tưởng chỉ dành cho sự trừng phạt. Điều làm truyện đáng nhớ không chỉ là người tài viết chữ, mà là sự nhận ra và bảo vệ phẩm giá giữa những con người có vị thế trái ngược. Từ bản tóm giải đã cung cấp, có thể thấy tình huống và sự đổi khác trong quan hệ nhân vật cùng làm sáng rõ chủ đề ấy.

Huấn Cao là người bị giam; quản ngục là người có quyền trong nhà tù. Theo lẽ thông thường, quan hệ của họ phải được quyết định bởi mệnh lệnh và sự phục tùng. Tuy nhiên, mong muốn có chữ đẹp của quản ngục tạo một quan hệ khác: người giữ tù biết kính trọng tài năng, còn người tù có quyền chấp nhận hoặc từ chối về tinh thần. Sự đối lập ấy khiến diễn biến không đơn giản là một ân huệ từ người quyền thế xuống kẻ yếu.

Ban đầu, sự lạnh lùng của Huấn Cao có căn nguyên trong hoàn cảnh ông chưa hiểu người trước mặt. Khi nhận ra tấm lòng trân trọng cái đẹp, ông thay đổi thái độ. Chi tiết này cho thấy phẩm giá không có nghĩa là khước từ mọi người đến cùng. Khả năng nhận ra thiện ý cũng là một phần của sự cao quý. Quản ngục không vì giữ một chức vụ mà mất hết chiều sâu; nhưng truyện cũng không xoá bản chất chật hẹp, tăm tối của nơi ông đang sống.

Cảnh cho chữ tập trung những đối lập đó. Không gian nhà tù được đặt cạnh hành động sáng tạo và tiếp nhận cái đẹp; người bị giam lại trở thành người có sức dẫn dắt tinh thần. Lời khuyên rời môi trường làm tổn hại lòng tốt cho thấy vẻ đẹp không chỉ nằm ở vật được sở hữu. Muốn giữ nó, con người phải quan tâm cách sống. Vì thế, nếu chỉ ca ngợi nét chữ mà bỏ quan hệ giữa tài và thiện, ta sẽ làm nghèo ý nghĩa câu chuyện.

Tình huống gặp gỡ éo le, diễn biến nhận thức và hệ thống đối lập giúp chủ đề hiện lên bằng nghệ thuật chứ không bằng một lời răn đơn lẻ. Truyện khơi niềm tin vào khả năng con người nhận ra điều tốt, đồng thời nhắc cái đẹp cần một môi trường sống xứng đáng. Bài viết này dùng bản tóm giải, không giả đã khảo sát mọi câu chữ nguyên tác.

Phương án 2

Anh hùng và giới hạn trong hai trích đoạn sử thi

Câu hỏi nghiên cứu: trong Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, quan hệ giữa người anh hùng với cộng đồng được thể hiện ra sao, và giới hạn của người anh hùng có ý nghĩa gì? Báo cáo dùng phương pháp đối chiếu văn bản qua các phần đọc trong SGK Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một. Đây là nghiên cứu tài liệu, không phải khảo sát điền dã hay kết luận về toàn bộ văn hoá Hi Lạp và Ê-đê.

Ở trích đoạn thứ nhất, lời từ biệt đặt trách nhiệm công cộng cạnh tình yêu gia đình. Héc-to hiểu nỗi lo của vợ; khi con sợ mũ chiến, chàng tháo mũ rồi bế con, sau đó vẫn phải đối diện nhiệm vụ bảo vệ thành. Bởi thế, lòng dũng cảm không hiện như sự vô cảm trước mất mát. Quan hệ giữa hai bên làm lí tưởng anh hùng trở nên khó khăn và giàu nhân tính: người đọc thấy cái giá của lựa chọn, không chỉ nghe một lời ca ngợi.

Ở trích đoạn thứ hai, khát vọng của Đăm Săn đưa nhân vật đến một đích vượt tầm thường. Không gian, thử thách và lời cảnh báo làm hành trình mang quy mô lớn. Nữ Thần từ chối rời vị trí vì sự sống của thế giới phụ thuộc vào nhiệm vụ của nàng; điều đó đặt mong muốn của Đăm Săn trước giới hạn cụ thể. Tuy nhiên, kết cục cho thấy ý chí không xoá mọi giới hạn. Ta có thể nhận ra sức hấp dẫn của khát vọng cùng lời nhắc về điều kiện tồn tại; không nên biến hình tượng thành khẩu hiệu rằng cứ liều lĩnh là đúng.

Hai trích đoạn cùng đặt nhân vật vào quan hệ lớn hơn đời tư, sử dụng tình huống căng thẳng để làm nổi tầm vóc. Khác biệt đáng chú ý là một bên tập trung vào cuộc từ biệt trước bổn phận, bên kia triển khai một hành trình và sự đối diện với giới hạn. So sánh như vậy không nhằm xếp hạng hai truyền thống. Mỗi trích đoạn có hệ thống tưởng tượng và cách lưu truyền riêng; bản tóm giải không đủ cho kết luận về âm điệu diễn xướng.

Kết quả bước đầu là: chiều sâu của anh hùng không chỉ nằm ở sức mạnh mà còn ở quan hệ, lựa chọn và giới hạn. Nghiên cứu tiếp cần đọc toàn bộ bản dịch có nguồn, tìm hiểu diễn xướng với tư liệu xác thực và phân biệt ý người nghiên cứu với lời tác phẩm.

Tài liệu: NXB Giáo dục Việt Nam, SGK Ngữ văn 10, tập một, các mục Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, bản đọc công khai trên taphuan.nxbgd.vn. Không ghi số trang giả và không chép bản dịch.

Phương án 3

Để điện thoại trở lại làm công cụ

Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.

Phân tích và đánh giá

Đọc đề để xác định thao tác: hệ thống không chỉ là nhớ tên; đọc không chỉ là tìm một từ; viết phải tạo lập văn bản; nói và nghe cần có hồi đáp. Với mỗi nhiệm vụ, ghi mục đích, căn cứ, cách tổ chức và kết quả cần kiểm. Tự đánh giá dựa trên chi tiết: nhận định có nguồn nào, câu nào thực hiện lập luận, phần nào cần sửa. Khi có nhiều phương án, không trộn thể loại: bản nội quy cần điều khoản, báo cáo cần câu hỏi và nguồn, bài luận cần quan điểm hoặc trải nghiệm phù hợp. Các bản mẫu là học liệu nguyên gốc, không phải lời tác giả khác hoặc một hoạt động đã xảy ra.

Mô hình hoàn chỉnh và lời giải mẫu

Phương án 1

Giữ điều đẹp trong một nơi không đẹp

Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đặt cuộc gặp giữa Huấn Cao và viên quản ngục ở một nơi tưởng chỉ dành cho sự trừng phạt. Điều làm truyện đáng nhớ không chỉ là người tài viết chữ, mà là sự nhận ra và bảo vệ phẩm giá giữa những con người có vị thế trái ngược. Từ bản tóm giải đã cung cấp, có thể thấy tình huống và sự đổi khác trong quan hệ nhân vật cùng làm sáng rõ chủ đề ấy.

Huấn Cao là người bị giam; quản ngục là người có quyền trong nhà tù. Theo lẽ thông thường, quan hệ của họ phải được quyết định bởi mệnh lệnh và sự phục tùng. Tuy nhiên, mong muốn có chữ đẹp của quản ngục tạo một quan hệ khác: người giữ tù biết kính trọng tài năng, còn người tù có quyền chấp nhận hoặc từ chối về tinh thần. Sự đối lập ấy khiến diễn biến không đơn giản là một ân huệ từ người quyền thế xuống kẻ yếu.

Ban đầu, sự lạnh lùng của Huấn Cao có căn nguyên trong hoàn cảnh ông chưa hiểu người trước mặt. Khi nhận ra tấm lòng trân trọng cái đẹp, ông thay đổi thái độ. Chi tiết này cho thấy phẩm giá không có nghĩa là khước từ mọi người đến cùng. Khả năng nhận ra thiện ý cũng là một phần của sự cao quý. Quản ngục không vì giữ một chức vụ mà mất hết chiều sâu; nhưng truyện cũng không xoá bản chất chật hẹp, tăm tối của nơi ông đang sống.

Cảnh cho chữ tập trung những đối lập đó. Không gian nhà tù được đặt cạnh hành động sáng tạo và tiếp nhận cái đẹp; người bị giam lại trở thành người có sức dẫn dắt tinh thần. Lời khuyên rời môi trường làm tổn hại lòng tốt cho thấy vẻ đẹp không chỉ nằm ở vật được sở hữu. Muốn giữ nó, con người phải quan tâm cách sống. Vì thế, nếu chỉ ca ngợi nét chữ mà bỏ quan hệ giữa tài và thiện, ta sẽ làm nghèo ý nghĩa câu chuyện.

Tình huống gặp gỡ éo le, diễn biến nhận thức và hệ thống đối lập giúp chủ đề hiện lên bằng nghệ thuật chứ không bằng một lời răn đơn lẻ. Truyện khơi niềm tin vào khả năng con người nhận ra điều tốt, đồng thời nhắc cái đẹp cần một môi trường sống xứng đáng. Bài viết này dùng bản tóm giải, không giả đã khảo sát mọi câu chữ nguyên tác.

Phương án 2

Anh hùng và giới hạn trong hai trích đoạn sử thi

Câu hỏi nghiên cứu: trong Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, quan hệ giữa người anh hùng với cộng đồng được thể hiện ra sao, và giới hạn của người anh hùng có ý nghĩa gì? Báo cáo dùng phương pháp đối chiếu văn bản qua các phần đọc trong SGK Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một. Đây là nghiên cứu tài liệu, không phải khảo sát điền dã hay kết luận về toàn bộ văn hoá Hi Lạp và Ê-đê.

Ở trích đoạn thứ nhất, lời từ biệt đặt trách nhiệm công cộng cạnh tình yêu gia đình. Héc-to hiểu nỗi lo của vợ; khi con sợ mũ chiến, chàng tháo mũ rồi bế con, sau đó vẫn phải đối diện nhiệm vụ bảo vệ thành. Bởi thế, lòng dũng cảm không hiện như sự vô cảm trước mất mát. Quan hệ giữa hai bên làm lí tưởng anh hùng trở nên khó khăn và giàu nhân tính: người đọc thấy cái giá của lựa chọn, không chỉ nghe một lời ca ngợi.

Ở trích đoạn thứ hai, khát vọng của Đăm Săn đưa nhân vật đến một đích vượt tầm thường. Không gian, thử thách và lời cảnh báo làm hành trình mang quy mô lớn. Nữ Thần từ chối rời vị trí vì sự sống của thế giới phụ thuộc vào nhiệm vụ của nàng; điều đó đặt mong muốn của Đăm Săn trước giới hạn cụ thể. Tuy nhiên, kết cục cho thấy ý chí không xoá mọi giới hạn. Ta có thể nhận ra sức hấp dẫn của khát vọng cùng lời nhắc về điều kiện tồn tại; không nên biến hình tượng thành khẩu hiệu rằng cứ liều lĩnh là đúng.

Hai trích đoạn cùng đặt nhân vật vào quan hệ lớn hơn đời tư, sử dụng tình huống căng thẳng để làm nổi tầm vóc. Khác biệt đáng chú ý là một bên tập trung vào cuộc từ biệt trước bổn phận, bên kia triển khai một hành trình và sự đối diện với giới hạn. So sánh như vậy không nhằm xếp hạng hai truyền thống. Mỗi trích đoạn có hệ thống tưởng tượng và cách lưu truyền riêng; bản tóm giải không đủ cho kết luận về âm điệu diễn xướng.

Kết quả bước đầu là: chiều sâu của anh hùng không chỉ nằm ở sức mạnh mà còn ở quan hệ, lựa chọn và giới hạn. Nghiên cứu tiếp cần đọc toàn bộ bản dịch có nguồn, tìm hiểu diễn xướng với tư liệu xác thực và phân biệt ý người nghiên cứu với lời tác phẩm.

Tài liệu: NXB Giáo dục Việt Nam, SGK Ngữ văn 10, tập một, các mục Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, bản đọc công khai trên taphuan.nxbgd.vn. Không ghi số trang giả và không chép bản dịch.

Phương án 3

Để điện thoại trở lại làm công cụ

Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

Khái niệm chính

Mục tiêu
chọn kiểu viết và triển khai thành bản hoàn chỉnh trong phạm vi học kì
Căn cứ
các hồ sơ và mô hình đầy đủ được giữ ngay trước câu hỏi
Thực hiện
chọn một trọng tâm cụ thể, tổ chức và kiểm tra giới hạn

Ví dụ

  1. Ví dụ 1

    Chọn một hoạt động trong hồ sơ và thực hiện đầy đủ theo đúng mục đích; nêu rõ lựa chọn và dùng ngữ liệu được giữ ở đây.

    Xem lời giải

    Phương án 1

    Giữ điều đẹp trong một nơi không đẹp

    Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đặt cuộc gặp giữa Huấn Cao và viên quản ngục ở một nơi tưởng chỉ dành cho sự trừng phạt. Điều làm truyện đáng nhớ không chỉ là người tài viết chữ, mà là sự nhận ra và bảo vệ phẩm giá giữa những con người có vị thế trái ngược. Từ bản tóm giải đã cung cấp, có thể thấy tình huống và sự đổi khác trong quan hệ nhân vật cùng làm sáng rõ chủ đề ấy.

    Huấn Cao là người bị giam; quản ngục là người có quyền trong nhà tù. Theo lẽ thông thường, quan hệ của họ phải được quyết định bởi mệnh lệnh và sự phục tùng. Tuy nhiên, mong muốn có chữ đẹp của quản ngục tạo một quan hệ khác: người giữ tù biết kính trọng tài năng, còn người tù có quyền chấp nhận hoặc từ chối về tinh thần. Sự đối lập ấy khiến diễn biến không đơn giản là một ân huệ từ người quyền thế xuống kẻ yếu.

    Ban đầu, sự lạnh lùng của Huấn Cao có căn nguyên trong hoàn cảnh ông chưa hiểu người trước mặt. Khi nhận ra tấm lòng trân trọng cái đẹp, ông thay đổi thái độ. Chi tiết này cho thấy phẩm giá không có nghĩa là khước từ mọi người đến cùng. Khả năng nhận ra thiện ý cũng là một phần của sự cao quý. Quản ngục không vì giữ một chức vụ mà mất hết chiều sâu; nhưng truyện cũng không xoá bản chất chật hẹp, tăm tối của nơi ông đang sống.

    Cảnh cho chữ tập trung những đối lập đó. Không gian nhà tù được đặt cạnh hành động sáng tạo và tiếp nhận cái đẹp; người bị giam lại trở thành người có sức dẫn dắt tinh thần. Lời khuyên rời môi trường làm tổn hại lòng tốt cho thấy vẻ đẹp không chỉ nằm ở vật được sở hữu. Muốn giữ nó, con người phải quan tâm cách sống. Vì thế, nếu chỉ ca ngợi nét chữ mà bỏ quan hệ giữa tài và thiện, ta sẽ làm nghèo ý nghĩa câu chuyện.

    Tình huống gặp gỡ éo le, diễn biến nhận thức và hệ thống đối lập giúp chủ đề hiện lên bằng nghệ thuật chứ không bằng một lời răn đơn lẻ. Truyện khơi niềm tin vào khả năng con người nhận ra điều tốt, đồng thời nhắc cái đẹp cần một môi trường sống xứng đáng. Bài viết này dùng bản tóm giải, không giả đã khảo sát mọi câu chữ nguyên tác.

    Phương án 2

    Anh hùng và giới hạn trong hai trích đoạn sử thi

    Câu hỏi nghiên cứu: trong Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, quan hệ giữa người anh hùng với cộng đồng được thể hiện ra sao, và giới hạn của người anh hùng có ý nghĩa gì? Báo cáo dùng phương pháp đối chiếu văn bản qua các phần đọc trong SGK Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một. Đây là nghiên cứu tài liệu, không phải khảo sát điền dã hay kết luận về toàn bộ văn hoá Hi Lạp và Ê-đê.

    Ở trích đoạn thứ nhất, lời từ biệt đặt trách nhiệm công cộng cạnh tình yêu gia đình. Héc-to hiểu nỗi lo của vợ; khi con sợ mũ chiến, chàng tháo mũ rồi bế con, sau đó vẫn phải đối diện nhiệm vụ bảo vệ thành. Bởi thế, lòng dũng cảm không hiện như sự vô cảm trước mất mát. Quan hệ giữa hai bên làm lí tưởng anh hùng trở nên khó khăn và giàu nhân tính: người đọc thấy cái giá của lựa chọn, không chỉ nghe một lời ca ngợi.

    Ở trích đoạn thứ hai, khát vọng của Đăm Săn đưa nhân vật đến một đích vượt tầm thường. Không gian, thử thách và lời cảnh báo làm hành trình mang quy mô lớn. Nữ Thần từ chối rời vị trí vì sự sống của thế giới phụ thuộc vào nhiệm vụ của nàng; điều đó đặt mong muốn của Đăm Săn trước giới hạn cụ thể. Tuy nhiên, kết cục cho thấy ý chí không xoá mọi giới hạn. Ta có thể nhận ra sức hấp dẫn của khát vọng cùng lời nhắc về điều kiện tồn tại; không nên biến hình tượng thành khẩu hiệu rằng cứ liều lĩnh là đúng.

    Hai trích đoạn cùng đặt nhân vật vào quan hệ lớn hơn đời tư, sử dụng tình huống căng thẳng để làm nổi tầm vóc. Khác biệt đáng chú ý là một bên tập trung vào cuộc từ biệt trước bổn phận, bên kia triển khai một hành trình và sự đối diện với giới hạn. So sánh như vậy không nhằm xếp hạng hai truyền thống. Mỗi trích đoạn có hệ thống tưởng tượng và cách lưu truyền riêng; bản tóm giải không đủ cho kết luận về âm điệu diễn xướng.

    Kết quả bước đầu là: chiều sâu của anh hùng không chỉ nằm ở sức mạnh mà còn ở quan hệ, lựa chọn và giới hạn. Nghiên cứu tiếp cần đọc toàn bộ bản dịch có nguồn, tìm hiểu diễn xướng với tư liệu xác thực và phân biệt ý người nghiên cứu với lời tác phẩm.

    Tài liệu: NXB Giáo dục Việt Nam, SGK Ngữ văn 10, tập một, các mục Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, bản đọc công khai trên taphuan.nxbgd.vn. Không ghi số trang giả và không chép bản dịch.

    Phương án 3

    Để điện thoại trở lại làm công cụ

    Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

    Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

    Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

    Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

    Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

Ghi nhớ

Mục tiêu: chọn kiểu viết và triển khai thành bản hoàn chỉnh trong phạm vi học kì; Căn cứ: các hồ sơ và mô hình đầy đủ được giữ ngay trước câu hỏi; Thực hiện: chọn một trọng tâm cụ thể, tổ chức và kiểm tra giới hạn.

Bài tập

Đã đúng 0/4 câu

  1. Đọc ngữ liệu

    Văn bản, xuất xứ và ngữ liệu đọc độc lập

    Luyện tập và vận dụng – Viết – Học liệu và bài mẫu nguyên gốc.

    Ôn tập học kì 1: chọn kiểu viết và triển khai thành bản hoàn chỉnh. Phạm vi là các Bài 1–5. Hồ sơ dưới đây giữ đủ văn bản tóm giải hoặc mô hình cần dùng; không yêu cầu đoán đoạn văn chưa có. Khi chọn một phương án thực hành, nói rõ lựa chọn, giữ căn cứ và giới hạn.

    Phương án 1

    Giữ điều đẹp trong một nơi không đẹp

    Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đặt cuộc gặp giữa Huấn Cao và viên quản ngục ở một nơi tưởng chỉ dành cho sự trừng phạt. Điều làm truyện đáng nhớ không chỉ là người tài viết chữ, mà là sự nhận ra và bảo vệ phẩm giá giữa những con người có vị thế trái ngược. Từ bản tóm giải đã cung cấp, có thể thấy tình huống và sự đổi khác trong quan hệ nhân vật cùng làm sáng rõ chủ đề ấy.

    Huấn Cao là người bị giam; quản ngục là người có quyền trong nhà tù. Theo lẽ thông thường, quan hệ của họ phải được quyết định bởi mệnh lệnh và sự phục tùng. Tuy nhiên, mong muốn có chữ đẹp của quản ngục tạo một quan hệ khác: người giữ tù biết kính trọng tài năng, còn người tù có quyền chấp nhận hoặc từ chối về tinh thần. Sự đối lập ấy khiến diễn biến không đơn giản là một ân huệ từ người quyền thế xuống kẻ yếu.

    Ban đầu, sự lạnh lùng của Huấn Cao có căn nguyên trong hoàn cảnh ông chưa hiểu người trước mặt. Khi nhận ra tấm lòng trân trọng cái đẹp, ông thay đổi thái độ. Chi tiết này cho thấy phẩm giá không có nghĩa là khước từ mọi người đến cùng. Khả năng nhận ra thiện ý cũng là một phần của sự cao quý. Quản ngục không vì giữ một chức vụ mà mất hết chiều sâu; nhưng truyện cũng không xoá bản chất chật hẹp, tăm tối của nơi ông đang sống.

    Cảnh cho chữ tập trung những đối lập đó. Không gian nhà tù được đặt cạnh hành động sáng tạo và tiếp nhận cái đẹp; người bị giam lại trở thành người có sức dẫn dắt tinh thần. Lời khuyên rời môi trường làm tổn hại lòng tốt cho thấy vẻ đẹp không chỉ nằm ở vật được sở hữu. Muốn giữ nó, con người phải quan tâm cách sống. Vì thế, nếu chỉ ca ngợi nét chữ mà bỏ quan hệ giữa tài và thiện, ta sẽ làm nghèo ý nghĩa câu chuyện.

    Tình huống gặp gỡ éo le, diễn biến nhận thức và hệ thống đối lập giúp chủ đề hiện lên bằng nghệ thuật chứ không bằng một lời răn đơn lẻ. Truyện khơi niềm tin vào khả năng con người nhận ra điều tốt, đồng thời nhắc cái đẹp cần một môi trường sống xứng đáng. Bài viết này dùng bản tóm giải, không giả đã khảo sát mọi câu chữ nguyên tác.

    Phương án 2

    Anh hùng và giới hạn trong hai trích đoạn sử thi

    Câu hỏi nghiên cứu: trong Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, quan hệ giữa người anh hùng với cộng đồng được thể hiện ra sao, và giới hạn của người anh hùng có ý nghĩa gì? Báo cáo dùng phương pháp đối chiếu văn bản qua các phần đọc trong SGK Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một. Đây là nghiên cứu tài liệu, không phải khảo sát điền dã hay kết luận về toàn bộ văn hoá Hi Lạp và Ê-đê.

    Ở trích đoạn thứ nhất, lời từ biệt đặt trách nhiệm công cộng cạnh tình yêu gia đình. Héc-to hiểu nỗi lo của vợ; khi con sợ mũ chiến, chàng tháo mũ rồi bế con, sau đó vẫn phải đối diện nhiệm vụ bảo vệ thành. Bởi thế, lòng dũng cảm không hiện như sự vô cảm trước mất mát. Quan hệ giữa hai bên làm lí tưởng anh hùng trở nên khó khăn và giàu nhân tính: người đọc thấy cái giá của lựa chọn, không chỉ nghe một lời ca ngợi.

    Ở trích đoạn thứ hai, khát vọng của Đăm Săn đưa nhân vật đến một đích vượt tầm thường. Không gian, thử thách và lời cảnh báo làm hành trình mang quy mô lớn. Nữ Thần từ chối rời vị trí vì sự sống của thế giới phụ thuộc vào nhiệm vụ của nàng; điều đó đặt mong muốn của Đăm Săn trước giới hạn cụ thể. Tuy nhiên, kết cục cho thấy ý chí không xoá mọi giới hạn. Ta có thể nhận ra sức hấp dẫn của khát vọng cùng lời nhắc về điều kiện tồn tại; không nên biến hình tượng thành khẩu hiệu rằng cứ liều lĩnh là đúng.

    Hai trích đoạn cùng đặt nhân vật vào quan hệ lớn hơn đời tư, sử dụng tình huống căng thẳng để làm nổi tầm vóc. Khác biệt đáng chú ý là một bên tập trung vào cuộc từ biệt trước bổn phận, bên kia triển khai một hành trình và sự đối diện với giới hạn. So sánh như vậy không nhằm xếp hạng hai truyền thống. Mỗi trích đoạn có hệ thống tưởng tượng và cách lưu truyền riêng; bản tóm giải không đủ cho kết luận về âm điệu diễn xướng.

    Kết quả bước đầu là: chiều sâu của anh hùng không chỉ nằm ở sức mạnh mà còn ở quan hệ, lựa chọn và giới hạn. Nghiên cứu tiếp cần đọc toàn bộ bản dịch có nguồn, tìm hiểu diễn xướng với tư liệu xác thực và phân biệt ý người nghiên cứu với lời tác phẩm.

    Tài liệu: NXB Giáo dục Việt Nam, SGK Ngữ văn 10, tập một, các mục Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, bản đọc công khai trên taphuan.nxbgd.vn. Không ghi số trang giả và không chép bản dịch.

    Phương án 3

    Để điện thoại trở lại làm công cụ

    Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

    Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

    Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

    Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

    Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

    Đây là bản tóm giải nguyên gốc phục vụ học tập; không phải nguyên văn hoặc bản dịch của tác phẩm.

    Phân tích và đánh giá

    Đọc đề để xác định thao tác: hệ thống không chỉ là nhớ tên; đọc không chỉ là tìm một từ; viết phải tạo lập văn bản; nói và nghe cần có hồi đáp. Với mỗi nhiệm vụ, ghi mục đích, căn cứ, cách tổ chức và kết quả cần kiểm. Tự đánh giá dựa trên chi tiết: nhận định có nguồn nào, câu nào thực hiện lập luận, phần nào cần sửa. Khi có nhiều phương án, không trộn thể loại: bản nội quy cần điều khoản, báo cáo cần câu hỏi và nguồn, bài luận cần quan điểm hoặc trải nghiệm phù hợp. Các bản mẫu là học liệu nguyên gốc, không phải lời tác giả khác hoặc một hoạt động đã xảy ra.

    Mô hình hoàn chỉnh và lời giải mẫu

    Phương án 1

    Giữ điều đẹp trong một nơi không đẹp

    Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đặt cuộc gặp giữa Huấn Cao và viên quản ngục ở một nơi tưởng chỉ dành cho sự trừng phạt. Điều làm truyện đáng nhớ không chỉ là người tài viết chữ, mà là sự nhận ra và bảo vệ phẩm giá giữa những con người có vị thế trái ngược. Từ bản tóm giải đã cung cấp, có thể thấy tình huống và sự đổi khác trong quan hệ nhân vật cùng làm sáng rõ chủ đề ấy.

    Huấn Cao là người bị giam; quản ngục là người có quyền trong nhà tù. Theo lẽ thông thường, quan hệ của họ phải được quyết định bởi mệnh lệnh và sự phục tùng. Tuy nhiên, mong muốn có chữ đẹp của quản ngục tạo một quan hệ khác: người giữ tù biết kính trọng tài năng, còn người tù có quyền chấp nhận hoặc từ chối về tinh thần. Sự đối lập ấy khiến diễn biến không đơn giản là một ân huệ từ người quyền thế xuống kẻ yếu.

    Ban đầu, sự lạnh lùng của Huấn Cao có căn nguyên trong hoàn cảnh ông chưa hiểu người trước mặt. Khi nhận ra tấm lòng trân trọng cái đẹp, ông thay đổi thái độ. Chi tiết này cho thấy phẩm giá không có nghĩa là khước từ mọi người đến cùng. Khả năng nhận ra thiện ý cũng là một phần của sự cao quý. Quản ngục không vì giữ một chức vụ mà mất hết chiều sâu; nhưng truyện cũng không xoá bản chất chật hẹp, tăm tối của nơi ông đang sống.

    Cảnh cho chữ tập trung những đối lập đó. Không gian nhà tù được đặt cạnh hành động sáng tạo và tiếp nhận cái đẹp; người bị giam lại trở thành người có sức dẫn dắt tinh thần. Lời khuyên rời môi trường làm tổn hại lòng tốt cho thấy vẻ đẹp không chỉ nằm ở vật được sở hữu. Muốn giữ nó, con người phải quan tâm cách sống. Vì thế, nếu chỉ ca ngợi nét chữ mà bỏ quan hệ giữa tài và thiện, ta sẽ làm nghèo ý nghĩa câu chuyện.

    Tình huống gặp gỡ éo le, diễn biến nhận thức và hệ thống đối lập giúp chủ đề hiện lên bằng nghệ thuật chứ không bằng một lời răn đơn lẻ. Truyện khơi niềm tin vào khả năng con người nhận ra điều tốt, đồng thời nhắc cái đẹp cần một môi trường sống xứng đáng. Bài viết này dùng bản tóm giải, không giả đã khảo sát mọi câu chữ nguyên tác.

    Phương án 2

    Anh hùng và giới hạn trong hai trích đoạn sử thi

    Câu hỏi nghiên cứu: trong Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, quan hệ giữa người anh hùng với cộng đồng được thể hiện ra sao, và giới hạn của người anh hùng có ý nghĩa gì? Báo cáo dùng phương pháp đối chiếu văn bản qua các phần đọc trong SGK Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một. Đây là nghiên cứu tài liệu, không phải khảo sát điền dã hay kết luận về toàn bộ văn hoá Hi Lạp và Ê-đê.

    Ở trích đoạn thứ nhất, lời từ biệt đặt trách nhiệm công cộng cạnh tình yêu gia đình. Héc-to hiểu nỗi lo của vợ; khi con sợ mũ chiến, chàng tháo mũ rồi bế con, sau đó vẫn phải đối diện nhiệm vụ bảo vệ thành. Bởi thế, lòng dũng cảm không hiện như sự vô cảm trước mất mát. Quan hệ giữa hai bên làm lí tưởng anh hùng trở nên khó khăn và giàu nhân tính: người đọc thấy cái giá của lựa chọn, không chỉ nghe một lời ca ngợi.

    Ở trích đoạn thứ hai, khát vọng của Đăm Săn đưa nhân vật đến một đích vượt tầm thường. Không gian, thử thách và lời cảnh báo làm hành trình mang quy mô lớn. Nữ Thần từ chối rời vị trí vì sự sống của thế giới phụ thuộc vào nhiệm vụ của nàng; điều đó đặt mong muốn của Đăm Săn trước giới hạn cụ thể. Tuy nhiên, kết cục cho thấy ý chí không xoá mọi giới hạn. Ta có thể nhận ra sức hấp dẫn của khát vọng cùng lời nhắc về điều kiện tồn tại; không nên biến hình tượng thành khẩu hiệu rằng cứ liều lĩnh là đúng.

    Hai trích đoạn cùng đặt nhân vật vào quan hệ lớn hơn đời tư, sử dụng tình huống căng thẳng để làm nổi tầm vóc. Khác biệt đáng chú ý là một bên tập trung vào cuộc từ biệt trước bổn phận, bên kia triển khai một hành trình và sự đối diện với giới hạn. So sánh như vậy không nhằm xếp hạng hai truyền thống. Mỗi trích đoạn có hệ thống tưởng tượng và cách lưu truyền riêng; bản tóm giải không đủ cho kết luận về âm điệu diễn xướng.

    Kết quả bước đầu là: chiều sâu của anh hùng không chỉ nằm ở sức mạnh mà còn ở quan hệ, lựa chọn và giới hạn. Nghiên cứu tiếp cần đọc toàn bộ bản dịch có nguồn, tìm hiểu diễn xướng với tư liệu xác thực và phân biệt ý người nghiên cứu với lời tác phẩm.

    Tài liệu: NXB Giáo dục Việt Nam, SGK Ngữ văn 10, tập một, các mục Héc-to từ biệt Ăng-đrô-mác và Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời, bản đọc công khai trên taphuan.nxbgd.vn. Không ghi số trang giả và không chép bản dịch.

    Phương án 3

    Để điện thoại trở lại làm công cụ

    Bạn có từng mở điện thoại để tìm một thông tin rồi quên mất mình định làm gì? Tôi không muốn từ trải nghiệm ấy kết luận ai dùng điện thoại nhiều đều thiếu ý chí. Thiết bị giúp ta liên lạc, học tập và nghỉ ngơi. Điều nên thay đổi là thói quen để mọi thông báo chen vào bất cứ việc nào, nhất là lúc ta đã hẹn dành thời gian cho một nhiệm vụ khác.

    Một lần ngắt quãng có thể nhỏ, nhưng nhiều lần khiến ta phải tìm lại mạch đang làm. Khi đọc sách cùng bạn, liên tục nhìn màn hình còn gửi đi tín hiệu rằng cuộc trò chuyện có thể bị đặt xuống bất cứ lúc nào. Không cần một con số khảo sát tự tạo để nhận ra sự bất tiện này: mỗi người có thể thử ghi lại một buổi của mình và xem mình có hoàn thành điều đã định không. Kết quả cá nhân chỉ dùng để tự điều chỉnh, không đại diện cho tất cả học sinh.

    Có người sẽ nói phải bật thông báo để không bỏ việc quan trọng. Ý kiến ấy có lí. Vì vậy, giải pháp không phải tắt mọi liên lạc hay vứt điện thoại. Ta có thể thống nhất với gia đình một cách gọi khi cần gấp, cho phép liên hệ cần thiết đi qua và tạm dừng thông báo không cấp bách trong một khoảng học vừa sức. Khi cần tra cứu, ghi câu hỏi trước, mở đúng tài liệu rồi quay lại việc đang làm.

    Bắt đầu cũng không cần bằng một lời hứa tuyệt đối. Bạn có thể chọn một buổi, đặt điện thoại ngoài tầm với nhưng vẫn an toàn, làm một nhiệm vụ ngắn rồi kiểm tra kết quả. Nếu hoàn cảnh buộc phải theo dõi liên lạc, hãy điều chỉnh cách thử; đừng dùng thất bại của một ngày để gắn nhãn bản thân. Có thể nhờ một người bạn nhắc nhẹ, không kiểm soát riêng tư hay công khai lịch sử sử dụng của nhau.

    Tôi đề nghị chúng ta thử trong một tuần học, sau đó tự hỏi: việc nào tập trung hơn, việc nào cần thay cách bố trí? Đây là lời mời cùng thay đổi một thói quen, không phải chẩn đoán sức khoẻ hay lời phán xét người dùng. Khi biết chọn thời điểm sử dụng, ta vẫn giữ lợi ích của điện thoại mà dành lại sự chú ý cho điều mình coi trọng. Công cụ tốt không cần biến thành người quyết định lịch sống của ta.

  2. Câu 1Mức 1Trắc nghiệm 1 đáp án

    Cách thực hiện nào phù hợp mục đích của hoạt động này?

  3. Câu 2Mức 2Ghép nối

    Ghép các yếu tố với vai trò/đặc điểm được trình bày trong bản tóm giải.

    Chạm một ý bên trái rồi chạm ý tương ứng bên phải để ghép cặp.

  4. Câu 3Mức 2Đúng / Sai nhiều ý

    Đọc các nhận định về văn bản và cách sử dụng nguồn.

    ÝĐúngSai
    a)Trong hồ sơ này, Mục tiêu được gắn với chọn kiểu viết và triển khai thành bản hoàn chỉnh trong phạm vi học kì.
    b)Trong hồ sơ này, Căn cứ được gắn với chọn một trọng tâm cụ thể, tổ chức và kiểm tra giới hạn.
    c)Các lời tóm giải ở đây là nguyên văn toàn bộ tác phẩm hoặc bản dịch trong sách.
    d)Khi đánh giá cần phân biệt điều ngữ liệu cung cấp với suy diễn ngoài căn cứ.
  5. Câu 4Mức 2Sắp xếp thứ tự

    Sắp xếp quy trình thực hiện theo quan hệ điều kiện trước – sau.

    Sắp xếp các mục theo thứ tự đúng (kéo thả hoặc dùng nút mũi tên).

    1. 1Kiểm tra tư liệu, chọn căn cứ có thể sử dụng.
    2. 2Tổ chức và thực hiện bản đầu theo mục đích.
    3. 3Đối chiếu yêu cầu, nhận phản hồi và chỉnh sửa.
    4. 4Xác định mục đích, đối tượng và yêu cầu.
  6. Câu 5Mức 3Tự luận

    Chọn một hoạt động trong hồ sơ và thực hiện đầy đủ theo đúng mục đích; nêu rõ lựa chọn và dùng ngữ liệu được giữ ở đây.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  7. Câu 6Mức 2Tự luận

    Lập kế hoạch thực hiện chính hoạt động trong hồ sơ: ghi mục đích, hai trọng tâm có tên cụ thể, nguồn/căn cứ và cách kiểm tra. Không chỉ chép tên ba phần mở–thân–kết.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  8. Câu 7Mức 2Tự luận

    Sửa nhận xét “Mô hình này chứng minh mọi người đều phải làm đúng như vậy”; thay bằng nhận xét đúng phạm vi và chỉ hai điều riêng của hoạt động vẫn phải giữ.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  9. Câu 8Mức 2Tự luận

    Viết phản hồi có ba phần cho mô hình: một điểm đạt gắn chi tiết, một điều cần kiểm tra, một cách chỉnh hoặc thử lại.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  10. Câu 9Mức 3Tự luận

    So sánh hai đối tượng hoặc hai cách làm được đặt trong hồ sơ; nêu điểm chung và một khác biệt có ý nghĩa, không xếp hạng chỉ theo độ dài.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  11. Câu 10Mức 3Tự luận

    Lập một kết nối đọc – viết hoặc đọc – nói cụ thể từ hồ sơ; nêu việc làm và căn cứ, không chỉ nói “vận dụng kiến thức”.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  12. Câu 11Mức 3Tự luận

    Nêu một sai lầm có thể gặp khi thực hiện yêu cầu ôn tập này, viết cách sửa đủ để người khác làm theo.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay

  13. Câu 12Mức 3Tự luận

    Viết đánh giá tổng hợp về trọng tâm ôn tập: điều đã có căn cứ, điều cần kiểm tra tiếp và một hoạt động mở rộng an toàn, trung thực.

    0 từ

    Ảnh bài làm

    Cuộn chuột hoặc chụm hai ngón để phóng to · kéo để di chuyển · phím R để xoay