Bản đồ khí hậu thể hiện sự phân hóa theo vĩ độ và theo lục địa – đại dương, địa hình. Đọc chú giải để nhận biết ranh giới đới và kiểu, không dùng màu trên một bản đồ làm quy ước chung cho mọi bản đồ. Phân tích biểu đồ theo thứ tự: trục tháng, đơn vị, nhiệt độ, lượng mưa, mùa và bán cầu. Nhiệt độ trung bình năm là trung bình 12 tháng khi bài cho các tháng có trọng số như nhau; tổng mưa năm là tổng 12 lượng mưa tháng.
Bộ mẫu giả định để tập đọc, không phải quan trắc trạm: nhiệt độ tháng I–XII lần lượt 16,17,20,24,27,29,29,28,27,24,21,18°C; mưa 20,20,40,80,160,220,260,240,180,100,40,20 mm. Tổng mưa 1380 mm, biên độ nhiệt 13°C; mưa tập trung tháng V–X (1160 mm, khoảng 84,1%). Báo cáo mẫu: khí hậu có mùa nóng ẩm và mùa lạnh hơn, ít mưa; chỉ từ biểu đồ chưa thể xác định duy nhất tên thành phố. Khi dùng dữ liệu thật phải nêu trạm, thời kì chuẩn và nguồn; không lấy trung bình cực đại – cực tiểu thay cho nhiệt độ trung bình quan trắc.
Đáp án khái quát đọc bản đồ khí hậu thế giới, không phải dải vĩ độ có ranh giới thẳng: từ cực về Xích đạo lần lượt gặp cực, cận cực, ôn đới, cận nhiệt, nhiệt đới, cận Xích đạo và Xích đạo. Hai bán cầu có trình tự tương ứng nhưng diện tích các đới khác nhau. Đới ôn đới có các kiểu lục địa, gió mùa và hải dương; cận nhiệt có lục địa, hải dương và địa trung hải; nhiệt đới có lục địa và gió mùa theo hệ phân loại bản đồ của bài. Vị trí biển–lục địa, dòng biển, gió và địa hình giải thích phân hoá trong đới. Phần lớn lãnh thổ Việt Nam thuộc nền nhiệt đới gió mùa; miền Bắc có mùa đông lạnh và núi cao phân hoá theo độ cao, không suy mọi điểm đồng nhất.

Mô hình hoàn chỉnh: tổng 12 nhiệt độ=280°C, trung bình các tháng theo trọng số bằng nhau=23,33°C; mưa=1380 mm; biên độ=13°C; V–X chiếm khoảng 84,1% mưa năm. Đây là sản phẩm luyện kĩ năng, không phải trạm cụ thể.